Việt Nam tham gia TPP – cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp

11h:40' - 18/9/2013
Tham gia TPP, Việt Nam sẽ gặp không ít thách thức khi cam kết và thực hiện các cam kết, đặc biệt là các điều kiện chặt chẽ về chứng minh hàng hóa xuất khẩu có xuất xứ nguyên liệu, phụ liệu được sản xuất tại Việt Nam hoặc các nước thành viên TPP. Song để tận dụng tối đa cơ hội mà TPP đem lại, các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều việc cần phải làm.
 

Để tận dụng tối đa cơ hội mà TPP đem lại, các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều việc cần phải làm
 
 
TPP - Định hình một tầm cao mới trong hội nhập quốc tế
 
Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) - Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương - là Hiệp định mang tính "mở", với kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định FTA thế kỷ 21.
 
Hiện hơn 20 nhóm đàm phán đang thảo luận 22 lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi của Hiệp định, nhằm tiến tới một thỏa thuận toàn diện bao gồm: Trao đổi hàng hóa, dịch vụ truyền thống và các dịch vụ mới xuất hiện; giải quyết các rào cản thương mại phi thuế quan và nhiều vấn đề khác; giúp các doanh nghiệp (DN) cỡ nhỏ và cỡ trung hội nhập tốt hơn vào nền thương mại toàn cầu; thông tin tự do trên Internet và cân bằng giữa bảo vệ bản quyền và quyền sử dụng thông tin một cách công bằng để tường thuật tin tức, nghiên cứu và học hỏi; bảo tồn môi sinh, và tìm cách giải quyết vấn đề liên quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã, khai thác gỗ và thủy sản.
 
Đặc biệt, TPP dự kiến sẽ thực hiện cắt giảm hầu hết các dòng thuế (ít nhất 90%), thực hiện ngay hoặc thực hiện với lộ trình rất ngắn; tăng mức độ mở cửa các loại dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính; tăng cường các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài và bảo vệ nhà đầu tư; tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với các mức trong WTO (WTO+), các biện pháp về xác định các thành viên có thể hoặc không thể áp đặt các hạn chế đối với những hàng hóa nhập khẩu nhất định (SPS), hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT), siết chặt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ và rào cản kỹ thuật; tăng cường cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực mua sắm công và nhiều lĩnh vực khác…
 
Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTA truyền thống trước đây là các DN, hiệp hội, tổ chức xã hội luôn được tạo cơ hội để trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm và nguyện vọng đối với các nội dung đàm phán của Hiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn dành cho các đối tượng liên quan được tổ chức bên lề các phiên đàm phán.
 
Ngày 23-8, Hội nghị Bộ trưởng 12 nước (gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam) tham gia vòng đàm phán thứ 19 của TPP đã khép lại tại thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei với cam kết sẽ đạt sự thống nhất rộng rãi về TPP vào tháng 10 tới và ký hiệp định vào cuối năm nay.
 
Nếu được thành lập, TPP sẽ trở thành một trong những khu vực thương mại lớn nhất thế giới, với hơn 792 triệu người, gần 40% GDP và khoảng 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu. Mỹ là thành viên lớn nhất, sẽ chiếm 57% tổng GDP và gần 40% tổng số dân của TPP.
 
Sau khi được thành lập, TPP sẽ được mở rộng theo từng giai đoạn để thúc đẩy hội nhập kinh tế sâu rộng hơn, hướng tới việc thành lập Khu vực Thương mại Tự do (FTA) châu Á - Thái Bình Dương.
 
Hiện nhiều nước, vùng lãnh thổ đã bày tỏ mối quan tâm muốn tham gia đàm phán như Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Lào, Thái-lan, Colombia, Costa Rica…
 
Caption

Để tận dụng hiệu quả cơ hội mà TPP đem lại, phải thường xuyên

nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu
 
Những cơ hội, thách thức và lời giải cần có cho doanh nghiệp
 
Với mức độ cam kết sâu hơn nhiều so với WTO, thậm chí nhiều lĩnh vực không có trong WTO, tác động hai chiều của TPP với các DN Việt Nam chắc chắn sẽ rất lớn.
 
TPP đặt ra yêu cầu rất cao là xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực (trừ nhóm các mặt hàng có lộ trình từ ba đến năm năm, một số ít có lộ trình tối đa 10 năm). Yêu cầu này vừa là cơ hội và thách thức cho DN Việt Nam; đặc biệt tạo cơ hội cho xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam khi được áp thuế nhập 0-6% thay vì trung bình mà Mỹ đang áp dụng lên đến 14,3% đối với giày dép, và 17,3% đối với dệt may.
 
Tham gia TPP, Việt Nam sẽ có cơ hội được tham vấn giữa chính phủ với chính phủ các nước đối tác về các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp. Việt Nam cũng có thể có được cam kết của các thành viên không sử dụng hoặc hạn chế các biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp.
 
Ngoài ra, Việt Nam có thể có cơ hội sử dụng các cam kết của TPP về hàng rào kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh dịch tễ để tránh các tranh chấp. Ðây chính là lợi thế để DN Việt Nam tăng xuất khẩu vào Mỹ và có khả năng cạnh tranh cao hơn so với DN một số nước như Trung Quốc, Bangladesh..., không phải là thành viên của TPP.
 
TPP còn tạo xung lực đẩy nhanh cổ phần hóa các DN nhà nước, mở cửa thị trường mua sắm; thuận lợi trong tiếp cận thị trường thành viên TPP, cải thiện các biện pháp hạn chế nhập khẩu; có cơ hội được công nhận là nền kinh tế thị trường sớm hơn...
 
TPP sẽ thúc đẩy các DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và được mua nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước TPP với chi phí thấp, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, các DN cũng có cơ hội được tham gia đấu thầu minh bạch, công khai khi mở cửa thị trường mua sắm công; đồng thời, tạo cơ hội tốt cho các DN thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động; được hưởng những tác động tích cực từ việc cải cách và thay đổi thể chế nhằm tuân thủ những cam kết chung của TPP; nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội, điều kiện, sự hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược tái cấu trúc và phát triển, nâng cao vị thế trên trường quốc tế...
 
Tuy nhiên, việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuôn khổ TPP sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ, trong đó có mở cửa thị trường, gia tăng cạnh tranh gắn với dỡ bỏ hàng rào thuế quan từ mức bình quân 11,7% hiện nay, trong khi không giúp loại bỏ các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp phòng vệ đối với hàng xuất khẩu Việt Nam.
 
Ngoài ra, việc tăng cường bảo hộ các quyền của chủ sở hữu quyền và/hoặc giảm các điều kiện để được công nhận bảo hộ (TRIPS+), đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm, nông hóa phẩm và chỉ dẫn địa lý, sáng chế và bản quyền sẽ khiến DN và nguời tiêu dùng Việt Nam gia tăng các chi phí, giảm cơ hội cải thiện thu nhập và khả năng cải thiện quy trình sản xuất vốn lạc hậu của rất nhiều ngành sản xuất Việt Nam hiện nay;
 
Đồng thời, sẽ có thể có sự điều chỉnh rất lớn đối với ngành công nghiệp ô-tô trong nước; xu hướng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản, như gạo, chè, cà phê, hạt tiêu… và hoạt động của các hộ nông dân chăn nuôi trong trung và dài hạn.
 
Bên cạnh đó, cùng với sự tham gia mạnh mẽ và tự do hơn của các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm, có ưu thế về dịch vụ trên thế giới (đặc biệt là các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ) có thể mở ra cơ hội cho các DN và người tiêu dùng trong nước tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ tài chính cạnh tranh và có chất lượng, thì TPP sẽ đặt ra những sức ép nhất định về thay đổi chính sách trong nước, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận đối với một số lĩnh vực tài chính mới trên thị trường và điều này dẫn đến áp lực cạnh tranh cao hơn với nhà cung cấp trong nước…
 
DN Việt Nam muốn tận dụng hiệu quả cao nhất những cơ hội mà TPP đem lại, điều quan trọng nhất là phải thường xuyên nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu; đặc biệt, cần vượt qua các điều kiện chặt chẽ về chứng minh lô hàng xuất khẩu có xuất xứ nguyên liệu, phụ liệu được sản xuất tại Việt Nam hoặc tại các nước thành viên TPP.
 
Cùng với việc tăng nhanh tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu của ngành và giảm thiểu phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài; tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ; đầu tư vào các vùng trồng cây nguyên liệu, cần phát triển mối quan hệ hợp tác với các nhà sản xuất nước ngoài có công nghệ tiên tiến; quan tâm đào tạo nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển thị trường; xây dựng chiến lược phát triển liên kết nội khối tạo chuỗi sản xuất lớn để có khả năng nhận những đơn hàng lớn.
 
TS NGUYỄN MINH PHONG
(Nhandan)

Các tin, bài đã đưa