Hoàng Sa, Trường Sa chưa từng được ghi nhận trong lịch sử phương chí và bản đồ hành chánh Trung Quốc
11:12, Thứ Sáu, 3/2/2012
Hầu hết các loại phương chí đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của hoàng đế và do chính quyền các cấp chủ trương tiến hành. Vậy các loại phương chí Trung Quốc chép gì về đơn vị hành chính cực nam của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử nước này? Xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu độc lập Phạm Hoàng Quân.
I- Hoàng Sa, Trường Sa chưa từng được ghi nhận trong lịch sử phương chí Trung Quốc

Phương chí, với nghĩa “chép rõ về một nơi”, là thuật ngữ để gọi chung cho loại sách địa lý đặc thù của Trung Quốc, trong đó gồm các loại: tổng chí (chép về cả nước), thông chí (chép về một tỉnh) và địa phương chí (chép về phủ, châu, huyện...).

Hầu hết các loại phương chí đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của hoàng đế và do chính quyền các cấp chủ trương tiến hành.

Vậy các loại phương chí Trung Quốc chép gì về đơn vị hành chính cực nam của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử nước này?

• Trong Tổng chí nói gì?

Tổng chí khá hoàn chỉnh đầu tiên được biên soạn vào đời Đường Hiến Tông, do đại học sĩ giám tu quốc sử Lý Cát Phủ làm xong năm Nguyên Hòa thứ 8 (năm 813), có tên là Nguyên Hòa Quận Huyện Đồ Chí (1). Bộ tổng chí được liệt vào hạng xưa nhất này gồm 40 quyển (nay chỉ còn 34 quyển), phản ánh cơ cấu hành chính 10 đạo đã thiết lập năm 639 và ghi chép thực trạng 47 trấn đương thời, phân cấp đến phủ, châu, huyện và một số hương lớn.

Phần viết về vùng đất cuối cùng phía biển nam nằm trong số quyển đã mất. Vài học giả đời Thanh đã tham khảo các tài liệu cùng thời để viết thêm bộ Nguyên Hòa Quận Huyện Bổ Chí(2). Bộ này cho thấy tỉnh/đảo Hải Nam ngày nay vào đời Đường là bốn châu Nhai, Đam, Vạn An và Chấn, thuộc đạo Lĩnh Nam, ở phía cực nam là hai huyện Ninh Viễn và Lâm Xuyên thuộc châu Chấn (nay là huyện Nhai, Hải Nam).

Nguyên Phong Cửu Vực Chí (3) thời Tống làm xong năm Nguyên Phong thứ 3 (1080), do Nghị lang đồng tu quốc sử quán Vương Tồn nhận sắc chỉ biên soạn. Sách này cho thấy đơn vị hành chính cực nam là huyện/trấn Mại Viễn thuộc quận Chu Nhai, châu Nhai, lộ Tây Quảng Nam (nay là huyện Nhai, Hải Nam).

Đại Minh Nhất Thống Chí(3) là tên do Chu Kỳ Trấn (Anh Tông) đặt cho bộ tổng chí có tên gốc là Thiên Hạ Nhất Thống Chí (4), do thượng thư bộ lại, đại học sĩ Lý Hiền làm tổng tài (chủ biên), làm xong năm 1461, gồm 91 quyển. Quyển đầu của bộ tổng chí này có 16 bức địa đồ (1 bức toàn quốc, 1 bức Bắc Kinh, 1 bức Nam Kinh và 13 bức của 13 Ty Bố chánh). Bức địa đồ toàn quốc mang tên Thiên Hạ Nhất Thống Chí Đồ và địa đồ Ty Bố chánh Quảng Đông với tên Quảng Đông Địa Lý Chi Đồ đều cho thấy cực nam lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến hết phủ Quỳnh Châu.

Ghi chép về phủ Quỳnh Châu ở quyển 82 cho thấy sự nhất quán với cương giới mà phần địa đồ mô tả, cực nam dừng ở địa phận châu Nhai. Các mục “Kiến trí diên cách” (Dựng đặt dời đổi), “Hình thẳng” (Địa hình/Cảnh quan) và “Sơn xuyên” (Núi sông) không ghi chép gì về phía biển nam.

Tổng chí đời Thanh có ba bộ, soạn lần đầu với tên Đại Thanh Nhất Thống Chí (342 quyển, làm xong năm 1743), lần hai với tên Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống Chí (5) do đại học sĩ Hòa Thân nhận sắc soạn thêm (gồm 424 quyển, làm xong năm 1784), lần ba với tên Gia Khánh Trùng Tu Đại Thanh Nhất Thống Chí(6) do Hàn lâm viện biên tu Lý Tá Hiền soạn thêm theo sắc chỉ của vua Gia Khánh (650 quyển, làm xong năm 1842). Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống Chí chép về cương giới phía nam cũng chỉ đến châu Nhai, thuộc phủ Quỳnh Châu như địa đồ Quảng Đông Toàn Đồ ở tờ 2, quyển 350 minh họa [hình 1].
                        

Hình 1: Quảng Đông Toàn Đồ, tờ 2, quyển 350

Mặt khác, có một chi tiết giúp xác định vùng Thất Châu Dương mà mấy chục năm nay học giả Trung Quốc cứ cho rằng nó là Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam). Ở quyển 350, mục “Sơn xuyên”, tờ 11 có đoạn: (dịch) Thất Tinh sơn ở phía bắc huyện Văn Xương, Minh nhất thống chí viết rằng núi này có bảy ngọn, còn có tên là Thất Châu Dương sơn, thông chí Quảng Đông viết là nó cách huyện lỵ Văn Xương về phía bắc 150 dặm (khoảng 75km), ở ngoài biển khơi...”.

Ghi chép này cho thấy nó kế thừa tổng chí đời Minh và tiếp thu kết quả khảo sát của thông chí địa phương, đồng xác định Thất Châu Dương tương ứng với Thất Châu liệt đảo ở khoảng vĩ độ 20, phía đông tỉnh Hải Nam ngày nay, mà không phải là Hoàng Sa của Việt Nam.

• Trong Tổng chí nói gì?

Thông chí liên quan trực tiếp đến vùng biển phía nam Trung Hoa là các bộ thông chí tỉnh Quảng Đông, trước sau có năm bộ, đều do các quan chức cấp cao ở tỉnh chủ trì biên soạn. Sớm nhất là Quảng Đông Thông Chí của Đới Cảnh thời Minh, làm xong năm 1535, kế đến là bộ do Hoàng Tá chủ biên, 72 quyển, làm xong năm 1602.

Đời Thanh gồm ba bộ của Kim Quang Tổ (1675); Hách Ngọc Lân, 64 quyển (1731); Nguyễn Nguyên, 334 quyển (1882). Trong Quảng Đông Thông Chí của Hách Ngọc Lân, Quảng Đông Toàn Tỉnh Tổng Đồ ở quyển 3, trang 3 [hình 2] cho thấy về cương vực, tức phạm vi quản lý hành chính của chính quyền cấp tỉnh, dừng ở phủ Quỳnh Châu.

                
Hình 2: Quảng Đông Toàn Tỉnh Tổng Đồ, trang 3, quyển 3


Địa đồ Quỳnh Châu Phủ Toàn Đồ ở quyển 3, trang 22 [hình 3] lại có dòng chú thích “Quỳnh, bốn mặt là biển, không khảo được tám nơi tiếp giáp”. Trong Quảng Đông Thông Chí của Nguyễn Nguyên, Quảng Đông Dư Địa Tổng Đồ được vẽ theo kỹ thuật phương Tây, phân hệ thống kinh vĩ, giới hạn về phía Nam chỉ thấy đến khoảng 18,5 độ vĩ bắc (7).

              

Hình 3: Quỳnh Châu Phủ Toàn Đồ, trang 22, quyển 3

• Và trong Địa phương chí nói gì?

Địa phương chí cấp cơ sở liên quan trực tiếp đến vùng biển nam Trung Hoa là các phủ chí Quỳnh Châu, theo bộ Quỳnh Châu phủ chí , biên soạn sau cùng trong đời Thanh (1891), có tính kế thừa và bổ sung hoàn thiện từ bốn bộ trước đó.

Các ghi chép về phạm vi cương giới cho thấy tương đồng với tổng chí và thông chí đã đề cập, sách này cũng dẫn lời quận thú (quận trưởng) Tiêu Ứng Thực viết trong phủ chí năm 1774 về các nơi tiếp giáp, quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực chép: “Quỳnh Châu là nơi giữa biển, nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp giáp huyện Từ Văn, phủ Lôi Châu”(8).

Trong nguyên tác của đoạn văn này, cách dùng chữ đối với hai trường hợp tiếp giáp cho thấy có sự phân biệt rõ ràng, các nơi ngoài Trung Quốc dùng chữ “tắc” (nghĩa “là”), còn nơi thuộc Trung Quốc thì dùng chữ “tiếp” (nghĩa “tiếp giáp, tiếp cận”), điều này cho thấy chính quyền nhà Thanh tuy biết có nơi là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường nhưng những nơi đó không thuộc sự quản lý hành chính của chính quyền đương thời.

Phương chí là loại sách lịch sử - địa lý quan trọng hàng đầu trong kho tàng văn hiến Trung Hoa. Các nước phương Tây và Nhật dùng nó làm cơ sở để nghiên cứu địa chính trị. Trong nguồn thư tịch cổ Trung Quốc, các chuyên mục địa lý chí trong chính sử chỉ ghi nhận tổng quan, còn phương chí là nơi thể hiện rõ và cụ thể hơn các đơn vị hành chính. Loại hình phương chí ra đời sau chính sử [địa lý chí], sau các chuyên thư về địa lý và sau việc soạn vẽ địa đồ, và do phối hợp, phát triển từ các loại hình này dần trở thành loại sách công cụ để các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương theo dõi tình hình đất đai, nhân sự, công sở, binh bị, văn hóa, kinh tế, sản vật... thuộc địa bàn được đề cập. Phương chí là một loại tư liệu lịch sử mang giá trị pháp quy, gắn liền với sự ổn định hoặc những biến động cương vực của một nước trong suốt quá trình cai trị của một triều đại và nhiều triều đại trong lịch sử.

Các học giả Trung Quốc thường né tránh việc dẫn dụng sách phương chí, hoặc nếu có thì chỉ trích dẫn các tiểu mục nói về sự tích nhân vật đạo sĩ, sư sãi hoặc các tiểu mục viết về quan hệ giao thương với nước ngoài. Những trích dẫn loại này phải xem là sử dụng sai mục đích..., còn những phần đề cập trực tiếp đến địa lý hành chính không được nhắc đến.

Phương chí cổ Trung Quốc chứa đựng nhiều sử liệu quý, có giá trị nhiều mặt trong việc tìm hiểu lịch sử các hoạt động xã hội Trung Quốc và các nước có biên giới lân cận. Riêng việc xác định chủ quyền trong lịch sử đối với các nơi trên biển Đông, phương chí các loại từ đời Đường cho đến đời Thanh cho thấy không có ghi nhận nào thể hiện sự quản lý hành chính đối với Tây Sa và Nam Sa, là những nơi mà trong các loại thư tịch đồng dạng, Việt Nam đã ghi nhận bằng tên Hoàng Sa và Trường Sa.
__________

(1) Nguyên Hòa quận huyện đồ chí, bản in chụp theo bản Văn Uyên Các (thuộc Tứ Khố Toàn Thư), Đài Loan thương vụ ấn thư quán, 1983.

(2) Nguyên Hòa quận huyện bổ chí, bản in khắc Kim Lăng thư cục, năm Quang Tự thứ 8 (1882), quyển 8, tờ 17-22.

(3) Nguyên Phong cửu vực chí, 10 quyển, bản in khắc Kim Lăng thư cục, năm Quang Tự thứ 8 (1882), quyển 10, tờ 3-4.

(4) Thiên Hạ nhất thống chí, bản in khắc Vạn Thọ Đường, năm Thiên Thuận thứ 5 (1461). Quảng Đông Bố chánh ty, quyển 79-82, Quỳnh Châu phủ, quyển 82, tờ 15-28.

(5) Khâm định Đại Thanh nhất thống chí, bản khắc in Hồng Bảo Trai trong niên hiệu Quang Tự (1875-1908) theo bản Võ Anh Điện. Quảng Đông tỉnh quyển 338-353, Quỳnh Châu phủ quyển 350.

(6) Bộ thứ nhất và bộ thứ ba chúng tôi chưa được coi, sẽ đề cập trong dịp khác.

(7) Trung Hoa tùng thư Quảng Đông thông chí (4 tập), Trung Hoa Tùng thư Biên thẩm ủy viên hội xuất bản, in chụp từ bản Nguyễn Nguyên Quảng Đông thông chí 334 quyển, Đài Bắc, 1959. Địa đồ “Quảng Đông dư địa tổng đồ”, quyển 83, dư địa lược 1, trang 1434-1435.

(8) Quỳnh Châu phủ chí, bản in chụp do Lữ Đài Hải Nam Đồng Hương Hội, không ghi năm, 5 cuốn, từ bản Long Bân, 44 quyển. Đoạn văn trích dịch ở trang 125, cuốn 1.

II. Hoàng Sa, Trường Sa chưa từng được ghi nhận trong lịch sử địa đồ hành chánh Trung Quốc

Trung Quốc là nơi có truyền thống lâu đời về sử học nói chung và địa đồ nói riêng, ngành khảo cổ từng phát hiện vài tấm địa đồ vẽ những địa phương nhỏ có niên đại rất sớm, như vào năm 1986 phát hiện tại Cam Túc bảy bức Bãi thả ngựa sông Thiên Thủy(1) có niên đại thời Chiến Quốc (năm 299 trước Công nguyên), năm 1974 phát hiện tại gò Hồ Nam ba bức “Địa đồ trong mộ Hán tại gò Mã Vương huyện Trường Sa”(2) có niên đại thời Hán (năm 168 trước Công nguyên).

Đến nay, địa đồ được xem là thể hiện cương vực quốc gia hoàn chỉnh sớm nhất xuất hiện vào năm 1121 (Bắc Tống, Tuyên Hòa thứ 3), là bức Cửu Vực Thú Lệnh Đồ (hình 4) được khắc trên đá, phát hiện năm 1960 tại huyện Vinh (tỉnh Tứ Xuyên). Phiến đá khắc địa đồ này cao 175cm, rộng 112cm, phần địa đồ cao 128cm, rộng 101cm, hiện đặt tại Viện Bảo tàng tỉnh Tứ Xuyên.(3) Cửu vực là cách gọi khác của “Cửu châu”, hai cách gọi này ám chỉ cương vực toàn quốc. Cửu Vực Thú Lệnh Đồ có thể hiểu là “địa đồ toàn quốc dùng để điều phối các quan trấn nhậm”.(4)

 

Hình 4: Cửu Vực Thú Lệnh Đồ


Giới hạn cương vực nhà Tống trong Cửu Vực Thú Lệnh Đồ về phía Nam đến Quỳnh Châu [Hải Nam]. Hình trạng đảo Hải Nam như ta thấy [ở góc dưới, bên trái] của địa đồ này được vẽ khá chuẩn xác, gần giống với hình thể đảo Hải Nam trên bản đồ hiện đại, trong khi vài tấm địa đồ có niên đại muộn hơn Cửu vực thú lệnh đồ lại không mô tả chính xác bằng.

Có một điểm cần lưu ý: trước nay giới nghiên cứu địa đồ Trung Quốc vẫn ghi nhận Hoa Di Đồ(5) và Vũ Tích Đồ(6) (cùng khắc trên một bia đá, niên đại 1136) là hai bức có niên đại sớm nhất và đa số các nghiên cứu về sau bị ảnh hưởng bởi J. Needham qua sách Lịch sử Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc(7) cũng nhận định như vậy. Tuy nhiên sách của J. Needham ấn hành năm 1959, lúc chưa phát hiện Cửu Vực Thú Lệnh Đồ, nên bức này không được khảo tả và học giả phương Tây cũng ít đề cập.

Các địa đồ sau này phần nhiều được biên soạn /vẽ trong chiều Minh như Dư Địa Đồ của Dương Tử Khí, khắc in năm Gia Tĩnh thứ 5 (1526); Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên, hoàn thành năm Gia Tĩnh thứ 20 (1541), khắc in năm 1555; Hoàng Triều Chức Phương Địa Đồ khắc in năm Sùng Trinh thứ 9 (1636); v.v… là những địa đồ hành chánh toàn quốc, được thực hiện theo chủ trương của chính quyền trung ương các đời. Những địa đồ này thực hiện dưới sự ảnh hưởng phần nào của kỹ thuật vẽ địa đồ phương Tây, và điểm cực nam của Trung Quốc trong cương vực tổng thể vẫn không quá đảo Quỳnh Châu [Hải Nam].

Ngoài ra, còn một số địa đồ hành chính và quân sự tiêu biểu trong tập Quảng Châu Lịch Sử Địa Đồ Tinh Túy xuất bản năm 2003, do Phòng lưu trữ hồ sơ lịch sử số 1 thuộc Tổng cục Lưu trữ Quốc gia phối hợp với Cục Lưu trữ Thành phố Quảng Châu công bố(8). Toàn tập tuyển chọn 97 bức, gồm địa đồ thế giới, địa đồ hành chánh toàn Trung Quốc, địa đồ hành chánh tỉnh Quảng Đông, thành phố Quảng Châu và các phủ, huyện... do giới quan chức hành chánh, quân sự soạn/vẽ/in vào triều Thanh và thời Dân Quốc.

Qua khảo sát, chúng tôi thấy đa số các bức địa đồ này chưa được giới học giả Trung Quốc dẫn dụng trong các công trình nghiên cứu về biển, đảo phía nam Trung Quốc đã in thành sách. Mặt khác, cũng chưa thấy giới học giả Việt Nam dẫn dụng trong các nghiên cứu về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc các nghiên cứu chung về biển Đông. Để góp thêm tư liệu cho học giới, xin giới thiệu sơ lược vài bức tiêu biểu trong tập địa đồ nêu trên:

a/ Loại địa đồ hành chính tỉnh Quảng Đông gồm 10 bức, bức có niên đại sớm nhất là Quảng Đông Tổng Đồ, kích thước 295x196 cm, vẽ màu trên lụa, khoảng năm 1685 (đời vua Khang Hi năm thứ 24) (hình 5). Phần trên của địa đồ là nội dung thuyết minh (Quảng Đông Toàn Tỉnh Đồ Thuyết), giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Đông, nói rõ về tứ chí (bốn hướng giáp giới) cùng các đơn vị hành chính. Địa đồ này và chín bức cùng loại cho thấy cương giới tỉnh Quảng Đông chỉ đến hết phủ Quỳnh Châu (Hải Nam).

 

Hình 5: Quảng Đông Tổng Đồ


b/ Loại địa đồ hành chính toàn quốc được tuyển hai bức Thiên Hạ Toàn Đồ, kích thước 142x231,6 cm và Hoàng Triều Dư Địa Toàn Đồ, kích thước 57x57,3 cm, được soạn vẽ khoảng năm 1728, 1729 (Ung Chính thứ 6,6). [Hình 6). Hai địa đồ này cho thấy cương giới phía nam Trung Quốc chỉ đến phủ Quỳnh Châu.

 

Hình 6: Hoàng Triều Dư Địa Toàn Đồ


c/ Loại địa đồ thể hiện cương giới biển có hai bức Duyên Hải Thất Tỉnh Khẩu Ngạn Hiểm Yếu Đồ (Các nơi hiểm yếu ở bảy tỉnh ven biển), kích thước 30x36,7 cm, được soạn/vẽ khoảng năm 1887 (Quang Tự thứ 13) và Thất Tỉnh Duyên Hải Toàn Dương Đồ (Toàn bộ vùng biển của bảy tỉnh duyên hải) [hình 7], kích thước 28x914,2 cm, khoảng năm 1862-1908 (Quang Tự). Hai địa đồ này cho thấy vùng biển nam Trung Quốc không vượt quá 18o vĩ Bắc.

 

Hình 7: Thất Tỉnh Duyên Hải Toàn Dương Đồ


d/ Loại địa đồ quân sự có bức Quảng Đông Thủy Sư Doanh Quan Binh Trú Phòng Đồ (Các đồn biên phòng của thủy quân Quảng Đông), kích thước 32x560cm, vẽ màu trên giấy, phỏng định được soạn/vẽ sau năm 1866 (Đông Trị thứ 5). Địa đồ quân sự này thể hiện chi tiết về núi sông, đảo dư, cửa khẩu, doanh trại, pháo đài... (trên các đảo và ven bờ biển), ghi rõ các nơi giáp giới vùng biển Giao Chỉ [hình 8, trích đoạn]. Các chi tiết cho thấy không nhóm đảo hoặc hòn đảo nào ứng với Tây Sa và Nam Sa .

 

Hình 8: Quảng Đông Thủy Sư Doanh Quan Bình Trú Phòng Đồ


Trong các công trình nghiên cứu về Nam Hải, học giới Trung Quốc thường dẫn dụng khoảng 50 bức địa đồ đời Minh, Thanh - là những bức địa đồ tổng quan thế giới - để lý luận về chủ quyền lịch sử, đại ý rằng: “Địa đồ lịch sử Trung Quốc đã ghi nhận về hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (bằng tên gọi của thời đó, như Vạn lý Trường Sa, Thiên lý Thạch Đường...) chứng tỏ các vương triều Trung Quốc đã xác định chủ quyền đối với những đảo, quần đảo này”. Trong khi những bức địa đồ nêu trong bài viết này là những địa đồ thể hiện cương vực Trung Quốc xưa [có giá trị như bản đồ hành chánh Trung Quốc ngày nay], là cơ sở pháp lý để xác định chủ quyền cương vực quốc gia lại không được nhắc tới.

1.    Địa đồ này được vẽ bằng mực lên tấm gỗ tùng, tên gọi theo âm Hán là Thiên Thủy Phóng Mã Đồ, hồ sơ khảo cổ gọi là Thiên Thủy Phóng Mã Than Tần Mộ Xuất Thổ Địa Đồ, được tìm thấy vào năm 1986 tại thành phố Thiên Thủy tỉnh Cam Túc trong khi khai quật mộ cổ, nien đại được xác định vào năm 299 trước Cn (thời Chiến Quốc ). Địa đồ này lấy lưu vực một đoạn song Thiên Thủy làm trục chính, vẽ một số nhánh sông và ghi địa danh.

2.    Ba bức gồm: Trường Sa Quốc Nam Bộ Trú Quân Đồ, Trường Sa Quốc Nam Bộ Địa Hình Đồ và Vực Ấp Đồ [hồ sơ khảo cổ gọi chung là Trường Sa Mã Vương Đôi Hán Mộ Địa Đồ]. Các địa đồ này được vẽ bằng màu trên nền lụa, khai quật năm 1974 ở gò Mã Vương, phía đông thành phố Trường Sa tỉnh Hồ Nam, niên đại được xác định vào năm 168 trước CN (Tây Hán, Hán Văn Đế, sơ nguyên 12). Đây là những địa đồ thể hiện khu vực quân sự, hành chính có niên đại sớm nhất mà ngày nay còn thấy được.

3.    Theo Trung Hoa cổ địa đồ tập trận, Diêm Bình – Tôn Quả Thanh biên soạn, Hàn Sắc Sa chụp ảnh, Tây An Địa đồ xuất bản xã, 1995. Cửu Vực Thú Lệnh Đồ dùng minh họa trong bài viết này [Hình 1, âm bản] là bản rập từ địa đồ trên phiến đá ở Viện bảo tàng tỉnh Tứ Xuyên, ảnh thu nhỏ, trang 128.

4.    Thú [gọi tắt là của Thái Thú] là quan đứng đầu khu vực hành chánh cấp Phủ hoặc tương đương; Lệnh [gọi tắt của Huyện Lệnh] là quan đứng đầu địa bàn hành chánh cấp huyện hoặc tương đương. “Cửu Vực Thú Lệnh Đồ” có thể hiểu rộng hơn là “địa đồ toàn quốc dùng để điều phối các quan trấn nhậm phủ, huyện”.

5.    Hoa Di Đồ được khắc lên đá vào năm Thiệu Hưng thứ 6 triều Nam Tống (1136), phần địa đồ có hình vuông, mỗi cạnh 114 cm, hiện đặt tại vườn bia Viện bảo tàng tỉnh Thiểm Tây. Tên địa đồ này có nghĩa là “địa đồ Trung Hoa và các nước xung quanh”.

6.    Vũ Tích Đồ được khắc ở mặt sau của Hoa Di Đồ, tên gọi Vũ Tích Đồ có nghĩa “địa đồ ghi dấu tích vua Vũ”. Vũ [hay còn gọi Đại Vũ] là vua mở đầu nhà Hạ (2070 – 1600 trước CN), theo Kinh Thư, là người đã phân hoạch 9 châu, tức là người đầu tiên quy hoạch bờ cõi Trung Hoa để quản lý đất đai và nhận cống phẩm, thuế khóa.

7.    Joseph Needham, Science and Civilisation in China, Cambridge at the University Press. Vol 3, 1959.

8.    Quảng Châu lịch sử địa đồ tinh túy, Trung Quốc đệ nhất lịch sử đương án quán – Quảng Châu thị đương án cục – Quảng Châu thị Việt Tú khu Nhân dân Chính phủ biên soạn, Trâu Ái Liên, Tiêu Kính Vinh chủ biên, Trung Quốc Đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 2003.

• thuhong