Những ghi chép liên quan đến Biển Đông của Việt Nam trong chính sử Trung Quốc-Kỳ 5
07:19, Thứ Ba, 21/2/2012
Địa lý chí trong Tống Sử cho thấy cương vực nhà Tống về phía đông nam vẫn dừng lại ở phần đất cực nam đảo Quỳnh như hồi thời Đường, chỉ thay đổi một số địa danh và cải sứa tên đơn vị quản lý hành chánh. Biên giới Tống - Lý ở vùng giáp với An Nam được phân định, trên đại thể gần giống với hiện nay. Trong chính sử Trung Hoa, bắt đầu từ Tống Sử, mục Địa lý chí không chép về An Nam, chuyển sang chép ở mục Liệt truyện, phần truyện Ngoại quốc.
Tống Sử, Địa Lý chí gồm 6 quyển, từ quyển 85-90. Chế độ quản lý hành chánh thời Tống phân 2 cấp Châu và Huyện. Ngang cấp với Châu còn có ba hình thức khác là Phủ, Quân và Giám, Châu và hình thức tương đương trực thuộc chính quyền trung ương. Những năm đầu, đổi tên cơ quan kiểm sát là Lộ [thời Đường gọi là Đạo], trong niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085) chia lập thành 24 Lộ. Năm Tuyên Hoà thứ 4 (1122) phân toàn quốc làm 26 Lộ, 4 phủ thuộc trung ương, 30 phủ, 254 châu, 63 giám, 1234 huyện.(1)

Về quản lý hành chánh, chia đảo Quỳnh làm 4 địa bàn cấp Châu và tương đương : 1/ Quỳnh châu ở phía bắc và đông bắc, 2/ Vạn An quân ở phía đông và đông nam, 3/ Cát Dương quân ở phía nam và tây nam, 4/ Xương Hoá quân ở phía tây. Cực nam là trấn Lâm Xuyên thuộc Cát Dương quân [là đất Chấn Châu thời Đường]. Về mặt giám sát, bốn đơn vị này thuộc Quảng Nam Tây lộ.(2)



Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt


 Nhận xét: Địa lý chí trong Tống Sử cho thấy cương vực nhà Tống về phía đông nam vẫn dừng lại ở phần đất cực nam đảo Quỳnh như hồi thời Đường, chỉ thay đổi một số địa danh và cải sứa tên đơn vị quản lý hành chánh. Phía tây nam đất đai thu hẹp lại, An Nam dựng nền tự chủ. Biên giới Tống - Lý ở vùng giáp với An Nam được phân định, trên đại thể gần giống với hiện nay. Trong chính sử Trung Hoa, bắt đầu từ Tống Sử, mục Địa lý chí không chép về An Nam, chuyển sang chép ở mục Liệt truyện, phần truyện Ngoại quốc.

 Tống sử, quyển 47, Bản kỷ 47 chép về ba triều đại quân chủ cuối nhà Tống là Doanh Quốc công Triệu Thấp, Kiến Quốc công Triệu Thị và Vĩnh Quốc công Triệu Bính. Triệu Thị và Triệu Bính sử gọi là Nhị Vương, riêng Triệu Thị sử còn gọi Tống Đoan Tông. Một đoạn trong truyện Triệu Thị liên quan đến tên một nhóm đảo ven bờ biển Quảng Đông mà các tranh luận về vị trí của nhóm đảo này cho đến nay vẫn chưa kết thúc. 

Trích đoạn về Kiến Quốc công Triệu Thị:

“Hai vương là con dòng thứ của Độ Tông, lớn là Kiến Quốc công Thị, mẹ là Thục phi họ Dương, út  là Vĩnh Quốc công Bính, mẹ  là cung nữ  lo việc trang điểm, họ Du. Khi Độ Tông băng, Tạ Thái hậu vời bọn Giả Tự Đạo vào cung bàn việc lập vua, số đông cho rằng nên lập Thị vì Thị đã lớn, Tự Đạo thì chủ trương lập con dòng đích, nên lập Thấp, phong Thị làm Cát Vương, Bính làm Tín Vương

(…)

Năm [Nguyên] Chí Nguyên thứ 14 (1277),  tháng 11,  [Tả  thừa] Tháp Xuất vây Quảng Châu. Ngày canh dần Trương Chấn Tôn đem thành đầu hàng. Nguyên soái Lưu Thâm đem thuyền đuổi Thị  đến Thiển Loan, Thị chạy ra Tú Sơn. Trần Nghi Trung chạy vào đất Chiêm Thành, cuối cùng không về được.

 Ngày bính tý tháng 12, Thị đến Tỉnh Áo, gió bão to khiến nhiều thuyền vỡ chìm, Thị sanh bệnh. Hơn mười ngày thì quan binh mới dần tụ lại, mười phần chết hết bốn, năm. Ngày Đinh Sửu, Lưu Thâm đuổi Thị đến Thất Châu Dương, bắt Du Như Khuê rồi quay về.”(3)

[hết trích]

 Nhận xét: Sự  kiện này về sau cũng được Phùng Kỳ chép trong Tống Sử Kỷ Sự bản mạt (1605), với nội dung khá giống như cách chép trong Tống Sử, riêng địa danh Thất Châu Dương thì chép là Thất Lý Dương. Nhiều nghiên cứu vội vàng mang tính gán ghép của các học giả hiện đại đã kết luận rằng Thất Châu Dương hay Thất Lý Dương trong truyện Triệu Thị là ứng với quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, trong học giới Trung Quốc cũng có những khảo luận khoa học về vấn đề xác định vị trí Thất Châu Dương, qua đó cũng nêu vấn đề sao chép sai lạc chồng chất trong các sách thời Minh, Thanh. Quỳnh Châu phủ chí thì chép Đoan Tông đến Thất Châu Dương [Taya Is], Hương Sơn huyện chí thì chép Đoan Tông đến Cửu Châu Dương [với lời chú “Thất Châu Dương thời Tống tức là nơi nay gọi Cửu Châu Dương”].(4) Huyện Hương Sơn nay là huyện Trung Sơn, Cửu Châu Dương còn gọi Cửu Tinh Châu, Cửu Tinh Sơn là nhóm đảo cách Áo Môn khoảng hơn 5 km về phía tây nam. Ở đây lập lại vấn đề đã nhận xét ở phần Cựu Đường Thư, tức có dấu hiệu cho thấy sự nhầm lẫn trong sao chép giữa các chữ Thất Cửu Lý Tinh trong các địa danh. 

Xét trong đoạn sử trích dịch một cách độc lập cũng cho thấy ngày tháng không hợp lịch pháp, ngày bính tý cách ngày đinh sửu 1 ngày  sau  hoặc 61 ngày  sau. Trong trường hợp cách 1 ngày thì đoàn quân thuyền bôn tẩu của Triệu Thị không thể đi xa Quảng Châu. Ngày bính tý ở Tỉnh Áo, là nơi cách huyện Trung Sơn khoảng 100 km về phía nam, ngoài biển khơi, [gần dưới núi Hoành Cầm, vùng sân bay Châu Hải], thì trong 1 ngày chỉ có thể loanh quanh địa bàn huyện Hương Sơn, như Hương Sơn huyên chí đã chép. Trường hợp cách 61 ngày rất khó xảy ra vì Tống Sử chép việc này ở phần Bản kỷ theo lối biên niên, đang đặt nội dung sự kiện liền nhau trong một tháng [tháng 12]. Trong thực trạng sử liệu này, việc tìm hiểu xem nơi Triệu Thị đến là Taya Is thuộc vùng biển đông bắc Hải Nam hay là Cửu Tinh Dương thuộc huyện Trung Sơn có lẽ thực tiễn hơn việc gắn nó vào một nơi rất xa như Tây Sa.

 Tống Sử dành 8 quyển trong Liệt truyện chép về ngoại quốc bốn phương quyển quyển 485,486 chép về Hạ Quốc [phía bắc], quyển 487 chép về Cao Ly quyển 488 về Giao Chỉ, Đại Lý [sau là Vân Nam], quyển 489, chép về một số nước Đông Nam Á như Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam [Pagan], Bột Nê [Bornéo], Đồ Bà [Java]. quyển 490, về các nước Thiên Trúc..., quyển 491 về Nhật Bản, Lưu Cầu..., quyển 492 các nước Thổ Phồn... 

Trích một đoạn truyện về Chiêm Thành : 

“Năm Thiên Hi thứ 2 (1018) vua Chiêm Thi Hắc Bài Ma Điệp(5) sai sứ là La Bì Đế Gia đem đồ sang cống, gồm 72 cái ngà voi, 86 cái sừng tê, 1.000 miếng đồi mồi, 50 cân nhũ hương, 80 cân hoa đinh hương, 65 cân đậu khấu, 100 cân trầm hương, 200 cân giấy thơm, một xấp giấy đặc biệt nặng 68 cân, 100 cân hồi hương, 1.500 cân cau. La Bì Đế Gia nói rằng người nước tôi đến  thẳng Quảng Châu, có lúc thuyền bị gió giạt đến Thạch Đường, nên nhiều năm không đến được. Năm thứ ba (1019), sứ về, bảo ban cho Thi Hắc Bài Ma Điệp 4.700 lượng bạc cùng với binh khí, yên ngựa.”(6)

[hết trích] 

 Nhận xét: Qua truyện về Chiêm Thành, Tống Sử đầu tiên chép về địa danh Thạch Đường, sau này đến thời Thanh, Từ Tùng trong Tống Hội yếu tập cảo chép lại nguyên văn nội dung này, chỉ  có khác là tên Thạch Đường trong Tống Hội yêu tập cảo viết Thạch Đường [đồng âm dị tự](7) Đoạn văn trên chỉ thuật lại lời nói bất chợt của một sứ giả nước ngoài khi đến Trung Hoa, với ý thanh minh cho việc gián đoạn nhiều năm không đến cống,(8) và nơi được mô tả là một nơi ngoài cương vực nhà Tống. Nội dung này không liên quan gì đến việc người Tống phát hiện ra nơi có tên [phỏng định] là Thạch Đường, như một số học giả Trung Quốc gần đây viết trong các luận văn./.

                                                                             Phạm Hoàng Quân


Chú thích

  1. Tống Sử, quyển 85, Chí 43, Địa lý 1.Bản THTC cuốn 7, tr.2043-2045. Lược thuật theo bài “Tổng luận Địa lý chí”.
  2. Tống Sử, quyển 90, Chí 43, Địa lý 6. Bản THTC cuốn 7, tr.2245-2246. Lược thuật phần “Quảng Nam Tây lộ”
  3. Tống Sử, quyển 47, Bản kỷ 47, Doanh Quốc công, phụ Nhị vương. Bản THTC cuốn 3, tr.939,943-944.
  4. Theo Đàm Kỳ Tương, “Tống Đoan Tông đáo quá Thất Châu Dương khảo”, 1979. In lại trong NamHải chư đảo địa danh luận văn tuyển, Quảng Đông Địa đồ xuất bản xã, Quảng Châu, 1987.
  5. Trong Le Royaume de Champa, (1928)Georges Maspero xác định tên vua Champa Thi Hắc bài Ma Điệp trong Tống sử được phiên âm từ tên Paramecvaravarman II [Niên biểu các vua Champa, tr.248].
  6. Tống sử, quyển truyện 489, Liệt truyện 418, Ngoại quốc 5. Bản THTC cuốn 40, tr.14083, 14084.
  7. Tống Hội Yếu Tập Cảo, quyển 197, Chiêm Thành quốc điều. Bản THTC, 1957.(tr.7784)
  8. “Chiêm Thành truyện” chép lần đến cống trước đó vào năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 (1015), tính ra chỉ cách ba năm, ghi chép về các lần đi sứ cho thấy năm trước đến thì năm sau mới về, tính ra mỗi chuyến đi phải mất hai năm. Như vậy sự ngưng cống trong ba năm không phải là một sự gián đoạn quá lâu. Ngờ rằng lời nói của sứ giả Chiêm Thành có điều lấn cấn, hoặc phiên dịch người Tống chuyển ý sai, hoặc sử gia chép không chính xác.

 

• thuhong