■Nguyên Sử, Địa lý chí gồm 6 quyển, từ quyển 58 - 63. Nhà Nguyên đổi cơ cấu quản lý hành chánh, áp dụng chế độ Hành Tỉnh, với Trung thư Tỉnh ở trung ương và 11 Hành trung thư Tỉnh [về sau gọi là Tỉnh] phân chia quản lý các cấp thấp hơn là Lộ, Phủ, Châu, Quân và An phủ ty [5 loại cơ quan này đều do Tỉnh quản lý], Lộ, Phủ, Châu quản lý các Huyện. Các nơi bất ổn áp dụng chế độ quản lý đặc biệt như Quân, Quân dân an phủ ty, Tuyên uý ty, Liêm phóng ty, các cơ quan này hoặc thuộc Tỉnh hoặc thuộc Lộ, Phủ tuỳ theo hoàn cảnh địa lý.
Địa lý chí chép đảo Quỳnh được quản lý bởi 4 đơn vị hành chánh: 1/ Càn Ninh Quân dân an phủ ty, là đất châu Nhai đời Đường, Quỳnh Quản An phủ đô giám đời Tống; 2/ Nam Ninh quân, là đất châu Đam đời Đường, Xương Hoá quân đời Tống; 3/ Vạn An quân, là đất châu Vạn An đời Đường, Tống đổi làm quân; 4/ Cát Dương quân, là đất châu Chấn đời Đường, châu Nhai đời Tống. Các đơn vị này thuộc Hải Bắc Hải Nam Đạo Tuyên uý ty. (1)

Theo Nguyên sử (bộ sử chính thức của nhà Nguyên - TQ), “lãnh thổ TQ” dưới thời Nguyên phía Nam chỉ tới đảo Hải Nam, phía Bắc không quá sa mạc Gobi
Nhận xét: Cơ cấu quản lý hành chánh các nơi trên đảo Quỳnh được chép trong Nguyên Sử cho thấy nơi này vẫn còn trong tình trạng bất ổn, Cát Dương quân chỉ có một huyện là Ninh Viễn với hơn 1400 hộ, ở phía cực nam đảo Quỳnh. Cương vực tổng thể nhà Nguyên chỉ đến cực nam đảo Hải Nam ngày nay.
Nguyên Sử - Thiên văn chí được biên chép cụ thể hơn Thiên văn chí trong các bộ sử trước, đây là điều tất yếu do sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Nhà khoa học Quách Thủ Kính (1231-1316) cải tiến nghi khí [công cụ quan trắc] truyền thống, bổ sung tổ hợp các bộ phận Giản nghi, Ngưỡng nghi và Khuê biểu; nghi khí được cải tiến này đã cho các kết quả địa điểm ứng với vĩ độ bắc và bóng mặt trời tại các điểm quan trắc ứng với thời khắc ngày đêm khá chính xác. Năm Chí Nguyên thứ 17 (1230), Quách Thủ Kính dựa vào kết quả quan trắc hoàn thành bộ lịch Thụ Thời nổi tiếng chuẩn mực, với chu kỳ trong năm là 365,2425 ngày, đây là bộ lịch ưu tú nhất trong lịch sử lịch pháp cổ đại Trung Quốc, chỉ chênh lệch 26 giây so với công lịch hiện nay.
Nguyên sử, quyển 48, Chí 1, Thiên văn 1, mục “Tứ hải trắc nghiệm” chép lại kết quả đo đạc 27 điểm trong và ngoài Trung Quốc vào năm 1279, như sau:
“Trắc nghiệm bốn biển,
- Nam Hải, nơi cực Bắc [vĩ độ Bắc] 15 độ, ngày Hạ chí bóng mặt trời [đổ về] phía nam trụ biểu 1 thước 1 tấc 6 phân [~ 31 cm]. Ngày 54 khắc, đêm 46 khắc.(2) [1 khắc ~ 14.4 phút]
- Hành Nhạc,(3) 25 độ vĩ bắc, ngày Hạ chí mặt trời ở đầu trụ biểu, không bóng, ngày 56 khắc, đêm 44 khắc.
- Nhạc Đài,(4) 35 độ vĩ bắc, ngày Hạ chí bóng mặt trời đổ dài 1 thước 4 tấc 8 phân, ngày 60 khắc, đêm 40 khắc.
- Hoà Lâm,(5) 45 độ vĩ bắc, ngày Hạ chí bóng mặt trời đổ dài 3 thước 2 tấc 4 phân, ngày 64 khắc, đêm 36 khắc.
- Thiết Lặc,(6) 55 độ vĩ bắc, ngày Hạ chí bóng mặt trời đổ dài 5 thước 1 phân, ngày 70 khắc, đêm 30 khắc.
- Bắc Hải,(7) 65 độ vĩ bắc, ngày Hạ chí bóng mặt trời đổ dài 6 thước 7 tấc 8 phân, ngày 82 khắc, đêm 18 khắc.
- Đại Đô,(8) cứng già 40 độ vĩ bắc, ngày Hạ chí bóng mặt trời đổ dài 1 trượng 2 thước 3 tấc 6 phân, ngày 62 khắc, đêm 38 khắc.
- Thượng Đô,(9) non 43 độ vĩ bắc.
- Bắc Kinh,(10) cứng 42 độ vĩ bắc.
- Ích Đô,(11) non 37 độ vĩ bắc.
- Đăng Châu, non 38 độ vĩ bắc.
- Cao Ly, non 38 độ vĩ bắc.
- Tây Kinh,(12) non 40 độ vĩ bắc.
- Thái Nguyên, non 38 độ vĩ bắc.
- An Tây phủ,(13) cứng 34.5 độ vĩ bắc.
- Hưng Nguyên, cứng 33.5 độ vĩ bắc.
- Thành Đô, cứng 31,5 độ vĩ bắc.
- Tây Lương Châu, cứng 40 độ vĩ bắc.
- Đông Bình, già 35 độ vĩ bắc.
- Đại Danh, 36 độ vĩ bắc.
- Nam Kinh, cứng già 34 độ vĩ bắc.
- Dương Thành - Hà Nam phủ, yếu 34 độ vĩ bắc.
- Dương Châu, 33 độ vĩ bắc.
- Ngạc Châu, 31, 5 độ vĩ bắc.
- Cát Châu, 26,5 độ vĩ bắc.
- Lôi Châu, già 20 độ vĩ bắc.”
- Quỳnh Châu, già 19 độ vĩ bắc.”(14)
[trích hết]
Nhận xét: Học giới Trung Quốc hiện nay thường căn cứ vào vĩ độ Nam Hải [15 độ vĩ bắc] được ghi nhận trong Nguyên sử - Thiên văn chí để lập luận về việc xác lập chủ quyền cương vực về phía nam thời Nguyên. Lập luận này không có cơ sở. Toàn văn bảng liệt kê các điểm “quan trắc bốn biển” cho thấy tính chất của lần đo đạc thực nghiệm này chỉ nhằm vào mục đích khoa học. Trong 27 địa điểm quan trắc, có 23 điểm thuộc cương vực nhà Nguyên, 4 địa điểm bên ngoài, là các nơi Nam Hải thuộc vùng biển Đông Nam Á, Bắc Cực, Thiết Lặc thuộc Russia, Cao Ly [nay là Triều Tiên].
Nguyên Sử, quyển 162, Liệt truyện 49, truyện Sử Bật có một đoạn liên quan đến vùng biển Đông qua việc Sử Bật đưa quân tấn công Java, trích đoạn như sau:
“Sử Bật tự Quân Tá, còn có tên Tháp Lạt Hồn, người huyện Bác Dã châu Lê.[…lược một đoạn tiểu sử, hành trạng…].
Năm Chí Nguyên thứ 29 (1292), thăng Sử Bật hàm Vinh Lộc Đại phu, chức Phúc Kiến các xứ Hành Trung thư tỉnh Bình Chương chính sự, đem quân đi đánh Trảo Oa [Java], lấy Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng làm phó, cho đem theo 150 kim phù, cùng với tiền, lụa mỗi thứ 200 món để dành thưởng người có công. Tháng 12, Bật với 5.000 người hội binh các cánh, tại Tuyền Châu xuất phát, gặp gió to sóng lớn, thuyền chòng chành chao đảo, quân sĩ mấy ngày không ăn được. Qua Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường, qua hải giới Giao Chỉ, Chiêm Thành. Tháng giêng năm sau (1293) đến núi [hòn] Đông Đổng, Tây Đổng, Ngưu Kỳ Dự, vào biển lớn Hỗn Độn rồi qua các núi [hòn] Cảm Lãm Dự, Giả Lý Mã Đáp và Câu Lan, dừng quân đốn cây làm thuyền nhỏ để vào [đất Trảo Oa].”(15)
[hết trích]
Để mở rộng tư liệu về cuộc viễn chinh Java, có thể phối hợp thêm các chi tiết cùng trong Nguyên Sử như truyện về Cao Hưng (sau truyện Sử Bật, quyển 162), truyện về Diệc Hắc Mê Thất (quyển 131),(16) truyện về nước Trảo Oa (quyển 210),(17) đối chiếu các truyện này, thấy có một vài chi
tiết nhỏ không trùng khớp.(18) Truyện Trảo Oa có chép thêm vài thông tin như số quân Nguyên trong lần viễn chinh này là hai vạn, lấy từ 3 tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây và Hồ Quảng, thuyền 1.000 chiếc, lương thực đủ ăn cho một năm v.v…
Các địa danh trong truyện Sử Bật cần được xác định không thấy các nhà hiệu khám Nguyên sử đề cập, tuy nhiên, theo lịch trình mô tả của đoạn văn trích dịch và các mô tả trong sách Đảo Di chí lược [viết thời Nguyên](19) có thể tạm xác định Thất Châu Dương tức Thất Châu Liệt Đảo (Taya Is.), Vạn Lý Thạch Đường có thể là quần đảo Trung Sa vì nó xuất hiện trước khi đến hải giới Giao Chỉ. Các nơi có tên Đông Đổng, Tây Đổng, Ngưu Kỳ Dự có lẽ là các đảo ven biển thuộc miền Trung Việt Nam được gọi theo cách riêng hoặc bị gọi sai lệch bởi người viết sử. Trong Trung Quốc Nam Dương Giao Thông Sử [chương thứ 9, Nam Hải thời Nguyên], Phùng Thừa Quân đã trích dẫn và phân tích đoạn văn này, tuy nhiên tên ba hòn đảo này đã không được chú giải.(20) Tên biển lớn Hỗn Độn, là một cách phiên âm từ tên Condore [Pulo Condore/ Kundor], tên gọi này hồi thời Đường được Giả Trầm ký âm là Quân Đột Lộng Sơn,(21) trong Đảo Di Chí Lược viết theo cách phiên khác là Quân Đồn hoặc Côn Lôn.(22)Cảm Lãm Dự có thể là một đảo trong
nhóm Giả Lý Mã Đáp, Giả Lý Mã Đáp còn gọi Giả Lý Mã Đã [Đảo Di Chí Lược], Kê Lung Đảo [Tây Dương Triều Cống Điển Lục, thời Minh],(23) tức quần đảo Karimata [1 độ 35’ Nam - 108 độ 55’ Đông]. Câu Lan, cũng trong Nguyên Sử, truyện Trảo Oa viết là Cấu Lan,(24) hoặc sau này còn có cách viết/phiên âm là Câu Lan, Cách Lan, Giao Lan, tức đảo Gelam [2 độ 53’ Nam - 110 độ 10’ Đông].(25)
Ở Trung Quốc hiện nay, xu hướng quy chiếu địa danh Vạn Lý Thạch Đường trong hành trình viễn chinh của Sử Bật ứng với Parasels không chỉ thịnh hành trong các tác giả chuyên nghiên cứu Nam Hải, mà nó còn được các nhà viết sử tổng quan xác định như là một sự tương ứng đương nhiên. Trong công trình Nhị Thập Ngũ Sử Tân Biên (1998),(26) phần Nguyên Sử, truyện Sử Bật chép lại cuộc hành trình viễn chinh Trảo Oa năm 1292 với đầy đủ các địa danh đã chép trong Nguyên Sử [cổ sử], và địa danh Vạn Lý Thạch Đường được mở ngoặc “nay là quần đảo Tây Sa”.(27)
Nhận xét: Địa danh Vạn Lý Thạch Đường trong đoạn văn mô tả hành trình cuộc viễn chinh Java của Sử Bật có nhiều hướng diễn giải, do sử bút không rõ ràng, nên khó xác định một cách chắc chắn nơi này là Trung Sa hay Tây Sa, nếu để chỉ Tây Sa thì theo lịch trình nó phải ở sau hải giới Giao Chỉ [căn cứ nhiều địa đồ thời Minh, Thanh, hải giới Giao Chỉ ở cuối đảo Quỳnh Châu]. Trong trường hợp Vạn Lý Thạch Đường ứng với Tây Sa thì nội dung đoạn văn này cũng không thể hiện tính chất phát hiện hoặc chiếm đóng của hải quân nhà Nguyên, nó đồng dạng với các nơi khác như Condore, Karimata, Gelam… được chép trong lịch trình. /.
Phạm Hoàng Quân
Chú thích
- Nguyên Sử, quyển 63, Chí 15, Địa lý 6. Bản THTC cuốn 5, tr.1538, 1539.
- Đơn vị Khắc trong cách đo thời gian cổ đại thường được tinh chung là ứng với 15 phút theo đồng hồ hiện nay, đây là cách tính tròn. Biên chép trong Nguyên sử-Thiên văn chí cho thấy chu kỳ ngày đêm là 100 khắc, như vậy ứng với 14,4 phút hiện nay.[24 giờ = 1.440 phút]. Đơn vị đo chiều dài thời Nguyên ứng với thước Tây ngày nay: 1 xích (thước) = 30.72 cm; trượng = 10 xích; 1 xích = 10 thốn (tấc); 1 thốn = 10 phân.
- Hành Nhạc, tức Hành Sơn, còn gọi Nam Nhạc trong Ngũ Nhạc, ngọn núi chủ [ vị trí quan trắc] ở phía tây bắc huyện Hành Sơn, thành phố Hành Dương, tỉnh Hồ Nam. Trên bản đồ hiện đại, Hành Nhạc ở vào vị trí khoảng 27 độ vĩ bắc. [trắc nhiệm chép trong Nguyên Sử - Thiên văn chí chênh 2 độ so với hiện nay].
- Nhạc Đài, tức Chung Nam Sơn, biệt danh Thái Nhất Sơn, còn gọi Thái Ất, Thái Đài. Tên trên bản đồ hiện đại là Thái Bạch Sơn, thuộc huyện Thái Bạch, thành phố Bảo Hạc, tỉnh Thiểm Tây, ở vào vị trí khoảng 34 độ vĩ bắc [chênh 1 độ so với hiện nay].
- Hòa Lâm, địa phương được đặt làm Tuyên úy ty thời Nguyên, là thủ phủ của lộ Hòa Ninh. Nay là Erden-in-jo [khoảng 103 độ kinh đông, 47 độ vĩ bắc], thuộc Mongolia. [chênh 2 độ vĩ bắc so với ngay nay].
- Thiết Lặc, tên gọi thời Nguyên chỉ vùng lưu vực sông Angara-hồ Baykal, nay là đất thuộc nước Nga.
- Bắc Hải, chỉ vùng Bắc cực.
- Đại Đô, lộ Đại Đô thời Nguyên ứng với vùng thành phố Bắc Kinh ngày nay, nơi đặt trung tam hành chánh trung ương.
- Thượng Đô, tên gọi thành Khai Bình thời Nguyên, nay là thành phố Chính Lam Kỳ [khoảng 116 độ kinh đông, 42 độ 30 phút vĩ bắc], thuộc Khu tự trị Nội Mông [chênh 30 phút vĩ bắc so với hiện nay].
- Bắc Kinh, tên một lộ thời Nguyên, ở khoảng giữa Đại Đô và Thượng Đô, nay là địa giới tỉnh Hà Bắc và Khu tự trị Nội Mông [khoảng 118 độ 30 phút kinh đông, 41 độ 30 phút vĩ bắc].
- Ích Đô, tên thành, tên lộ thời Nguyên, thủ phủ lộ Ích Đô đặt tại thành Ích Đô, nơi nay là thành phố Ích Đô tỉnh Sơn Đông [khoảng 118 độ 30 phút kinh đông, 36 độ 40 phút vĩ bắc].
- Tây Kinh, tên lộ [gọi trong khoảng niên hiệu Chí Nguyên 1264 - 1293], tức lộ Đại Đồng [tên gọi trong khoảng niên hiệu Chí Thuận 1330 - 1332], nay là thành phố Thiên Đồng tỉnh Sơn Tây.
- An Tây, tên phủ sau đổi làm lộ, thời Nguyên thuộc Thiểm Tây Tứ Xuyên hành tỉnh, nay là thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây.
- Nguyên Sử, quyển 48, Chí 1, Thiên văn 1, Tứ hải trắc nghiệm. Bản THTC cuốn 4, tr.1000-1001.
- Nguyên Sử, quyển 162, Liệt truyện 49, Sử Bật. Bản THTC cuốn 13, tr.3799-3802.
- bản THTC, cuốn 11, tr.3198-3200.
- bản THTC, cuốn 15, tr.4664-4667.
- Truyện Trảo Oa liệt kê các vật phẩm mang theo [dùng để ban thưởng cho quân tướng có công] chi tiết hơn và có khác với con số chép trong truyện Sử Bật.
- Uông Đại Uyên, Đảo Di Chí Lược (1349), bài viết này tham khảo bản Đảo Di Chí Lược hiệu thích (1965) của Tô Kế Khoảnh, Trung Hoa thư cục xb, 1981.
- Phùng Thừa Quân, Trung Quốc Nam Dương Giao Thông Sử, sđd, tr.79-90.
- Xem lại phần khảo về Tân Đường Thư và chú thích số 68.
- Đảo Di Chí Lược mục Côn Lôn Dương, lời hiệu khám chú của Tô Kế Khoảnh: “Côn Lôn Dương, Nguyên Sử - Sử Bật truyện còn viết là Hỗn Độn Đại Dương, là vùng biển quanh đảo Côn Lôn.”. Sđd, tr 218-221.
- Theo Tân Biên Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ Tập, Chu Giám Thu – Lý Vạn Quyền chủ biên, Hải quân Hải Dương trắc hội nghiên cứu sở - Đại Liên Hải vận Học viện Hàng hải sử nghiên cứu thất biên chế, Nhan dân Giao thông xuất bản xã, Bắc Kinh, 1988. (trang 53). Sđd, bản THTC, cuốn 15, tr. 4665.
- Sđd, bản THTC, cuốn 15, tr. 4665
- Sđd [chú thích 104], tr. 53
- Nhị thập ngũ sử tân biên, Lý Quốc Chương, Triệu Xương Bình chủ biên, Thượng Hải Cổ tịch xbx, 1998. (15 cuốn). Lưu Nguyên Thắng thực hiện phần Nguyên Sử. Công trình này với sự cố vấn của các sử học gia hàng đầu Phương Thi Minh, Lý Học Cần, Trần Giáng, được biên soạn mới (tân biên) dựa trên nguyên tác 24 bộ sử và Thanh Sử cảo, tất cả được viết rút gọn lại, bổ sung phần Tây Hạ sử và chuyển đổi cơ cấu toàn thể các bộ sử cổ theo một bố cục thống nhất gồm 4 phần: kỷ sự, truyện ký, chí, biểu. Từ 25 bộ sử gốc với chiều dài [gáy sách] 4.2m, bộ sử Tân biên này rút gọn còn 0.21 m, tức dung lượng chỉ bằng 1/20 so với 25 bộ sử gốc.
- Nhị thập ngũ sử tân biên, sđd, cuốn 12, Nguyên Sử, tr.141.