Hoài Đức, Việt kiều Úc
  Tôi uỷ quyền em trai ở Việt Nam tranh chấp quyền sử dụng đất. Nay tòa án sơ thẩm trả đất cho tôi, còn tòa án phúc thẩm thì xử trả bằng tiền.  
Trả Lời: Hỏi: Tôi uỷ quyền em trai ở Việt Nam tranh chấp quyền sử dụng đất. Nay tòa án sơ thẩm trả đất cho tôi, còn tòa án phúc thẩm thì xử trả bằng tiền. xin hỏi:  Tôi có được nhận lại quyền sử dụng đất không?

 

                                                             ( Hoài Đức, Việt kiều Úc)


Trả lời:


Theo quy định của Luật Đất đai Việt Nam năm 2003, tại Điều 113 và Điều 121: nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất tại Việt Nam, nhưng thuộc đối tượng không được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở thì chỉ được hưởng giá trị của phần thừa kế đó.


Do vậy, đối với trường hợp mà ông ( bà)  nêu, nếu  thuộc đối tượng không được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì ông ( bà) chỉ được hưởng giá trị của quyền sử dụng đất đó, chứ không được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất./.

Nguyễn Thắng Nam, Việt kiều Đức
  Tôi hiện đang sống và làm việc tại CHLB Đức, cho đến nay tôi vẫn sử dụng hộ chiếu và còn quốc tịch Việt Nam. Tôi có ý định hồi hương về lại Việt Nam. Theo công văn 17497/BTC-TCHQ ngày 25/12/2007 của Bộ Tài chính thì tôi không phải làm thủ tục hồi hương, vậy khi tôi về Việt Nam thì căn cứ vào đâu để tôi chứng minh cho cơ quan hải quan biết tôi là người hồi hương hẳn về Việt Nam  
Trả Lời: Câu hỏi:
Tôi hiện đang sống và làm việc tại CHLB Đức, cho đến nay tôi vẫn sử dụng hộ chiếu và còn quốc tịch Việt Nam. Tôi có ý định hồi hương về lại Việt Nam. Theo công văn 17497/BTC-TCHQ ngày 25/12/2007 của Bộ Tài chính thì tôi không phải làm thủ tục hồi hương, vậy khi tôi về Việt Nam thì căn cứ vào đâu để tôi chứng minh cho cơ quan hải quan biết tôi là người hồi hương hẳn về Việt Nam
                                                                                                   (Nguyễn Thắng Nam, Việt kiều Đức)
Trả lời:


 Khi về Việt Nam, Bạn phải xuất trình một trong những giấy tờ sau để chứng minh với cơ quan hải quan về đối tượng được miễn thuế như:

* Hộ chiếu Việt Nam (hoặc giấy tờ thay hộ chiếu Việt Nam có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của lực lượng kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu);
* Giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp;
* Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp;kèm theo giấy tờ chứng minh được về nước thường trú.
Mai Anh, Việt Nam
  Sắp tới, tôi có việc phải đi Pháp, Bỉ và một số nước EU khác. Vì chuyến đi dài ngày, lại chưa có kinh nghiệm về dịch vụ ngân hàng ở các nước đó, tôi muốn đem tiền mặt đi để chi tiêu. Vậy, tôi được đem bao nhiêu tiền mặt khi xuất cảnh? Nếu đem quá, tôi có thể bị phạt tới bao nhiêu tiền?  
Trả Lời: Câu hỏi:
 Sắp tới, tôi có việc phải đi Pháp, Bỉ và một số nước EU khác. Vì chuyến đi dài ngày, lại chưa có kinh nghiệm về dịch vụ ngân hàng ở các nước đó, tôi muốn đem tiền mặt đi để chi tiêu. Vậy, tôi được đem bao nhiêu tiền mặt khi xuất cảnh? Nếu đem quá, tôi có thể bị phạt tới bao nhiêu tiền?
                                                                                                                 (Mai Anh, Việt Nam)
 Trả lời: 
 Khi xuất cảnh, chị chỉ được đem một lượng tiền mặt ( bao gồm tiền giấy, tiền kim loại, séc du lịch) nhất định, ngoại tệ là 7.000USD hoặc các ngoại tệ có giá trị tương đương, tiền Việt Nam là 15 triệu đồng. Nếu trên mức đó thì phải khai báo với hải quan cửa khẩu và xuất trình các giấy tờ cần thiết.Nếu chị vi phạm, thì điều 10 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP quy định, trừ trường hợp không khai hoặc khai sai so với quy định mà giá trị của số tiền vi phạm nhỏ hơn 10 triệu đồng Việt Nam, chị sẽ không bị xử phạt hành chính nhưng buộc phải lập lại tờ khai hải quan. Còn nếu không, tùy số tiền vi phạm, chị có thể bị phạt tiền tới 70 triệu đồng. Tang vật vi phạm được trả lại khi quyết định xử phạt đã được thực hiện. Trong trường hợp giá trị của số tiền vi phạm từ 100 triệu đồng trở lên và là tội phạm, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Buôn lậu hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, người phạm tội có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.
Thông tin chung
Địa lý Việt Nam
10:43, Thứ Năm, 11/3/2010
Đất nước Việt Nam xinh đẹp nằm ở kinh độ  từ 102o 09’ đến 109o 30’

Vĩ độ: từ 8o10’ đến 23o24’

Diện tích đất liền: 331.698 km2

Khoảng cách (đường chim bay) giữa hai điểm cực nam và bắc: 1.650 km

Khoảng cách Đông-Tây tối đa: 600 km (Bắc Bộ), 400 km (Nam Bộ); tối thiểu: 50 km (Quảng Bình, Trung Bộ)


                  
                Việt Nam có nhiều thắng cảnh đẹp nổi tiếng

 Địa hình Việt Nam có hình chữ S nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, giữa vùng Đông Nam Á, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông và Nam giáp biển. Phần lớn diện tích lãnh thổ Việt Nam có địa hình đồi núi tập trung ở phía Bắc và phía Tây; các đồng bằng nằm chủ yếu ở phía Đông và phía Nam lãnh thổ. Vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km2, bờ biển trải dài hơn 3000 km, nằm dọc biển Đông của Thái Bình Dương. Các vùng núi và biển này chứa nhiều nguồn tài nguyên và khoáng sản đa dạng phong phú.

Phía Tây Nam miền Trung Việt Nam là một cao nguyên rộng lớn ở độ cao trên 1000 m, bao phủ bởi lớp đất đỏ bazan, nơi đây rất thích hợp với các cây công nghiệp vùng nhiệt đới và ôn hoà như cao su, chè, cà phê, ca cao....

Dọc theo bờ biển Việt Nam, từ Bắc xuống Nam, có nhiều bãi biển đẹp, đặc biệt là Vịnh Hạ Long với hơn 3000 hòn đảo, được UNESCO công nhận là kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Việt Nam có nhiều khu rừng nguyên thuỷ còn chưa bị khai thác với nhiều loài động , thực vật quý và hiếm, nhiều vùng cao có khí hậu ôn hoà và phong cảnh độc đáo như Sa Pa, Đà Lạt... và vô số hồ, suối, thác và hang động độc đáo...


      
Việt Nam có nhiều hang động độc đáo

Các mỏ khoáng sản như than đá, sắt, bô-xít và kim loại hiếm tập trung chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung; trên thềm lục địa và các vùng ven biển có nhiều mỏ dầu và khí đốt. Sông, hồ và các vùng biển Việt Nam có nhiều cá tôm và các loại hải sản.

Về đặc điểm địa lý, lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi và có bờ biển dài. Núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ. Hệ thống núi kéo dài từ biên giới Tây- Bắc đến phần đông của Nam Bộ, dài tổng cộng 1.400  km.

Bốn vùng núi chính  gồm:
Vùng núi Đông Bắc (còn gọi là Việt Bắc) kéo dài từ thung lũng sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ. Tại đây có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), hang Pắc Bó, thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), núi Yên Tử, Vịnh Hạ Long - di sản thế giới (Quảng Ninh). Đỉnh núi Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) với 2.431m, cao nhất vùng Đông Bắc.

Vùng núi Tây Bắc kéo dài từ biên giới phía bắc (giáp Trung Quốc) tới phía tây tỉnh Thanh Hoá. Đây là vùng núi cao hùng vĩ có Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.500m so với mặt biển, một địa chỉ nghỉ mát nổi tiếng  tập trung đông các tộc người H'Mông, Dao, Kinh, Tày, Giáy, Hoa, Xá Phó...

 Vùng núi Tây Bắc còn có di tích chiến trường lừng danh Điện Biên Phủ và đỉnh núi Phan Xi Păng, cao 3.143m, cao nhất Đông Dương.

Vùng núi Trường Sơn Bắc từ phía tây tỉnh Thanh Hóa đến vùng núi Quảng Nam - Đà Nẵng, có vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản văn hóa thế giới (Quảng Bình) và những đường đèo nổi tiếng như: đèo Ngang, đèo Hải Vân... Đặc biệt, đường mòn Hồ Chí Minh được thế giới biết đến nhiều bởi những kỳ tích của người Việt Nam trong cuộc kháng chiến vĩ đại bảo vệ đất nước.

Vùng núi Trường Sơn Nam nằm ở phía tây các tỉnh Nam Trung Bộ. Sau những khối núi đồ sộ là một vùng đất rộng lớn được gọi là Tây Nguyên (cao nguyên phía tây). Vùng đất đầy huyền thoại này còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn về thực vật, động vật, đặc biệt là nền văn hóa đặc sắc, độc đáo  của các bộ tộc ít người. Thành phố Đà Lạt - nơi nghỉ mát lý tưởng được hình thành từ cuối thế kỷ 19, đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng với các hoạt động Festival Hoa đầy mầu sắc.

Việt Nam có hai đồng bằng lớn  là Đồng bằng sông Hồng ( đồng bằng Bắc Bộ). Đồng bằng Sông Hồng  rộng khoảng 15.000km² được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ và cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước.


                    
                       Những cánh đồng lúa mầu mỡ

Đồng Bằng sông Cửu Long (đồng bằng Nam Bộ) Rộng trên 40.000km², là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi. Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.

Tổng chiều dài các con sông của Việt Nam là 41.000 km, với tổng lưu lượng gần 300 tỷ m3 nước và 3.100 km kênh rạch. Sông Hồng dài 1.149 km, trong đó 510 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam. Sông Mê Kông (Cửu Long) dài 4.220 km trong đó 220 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam.
 
 Bờ biển Việt Nam  dài 3.260km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, trung bình 100 ki lô mét vuông đất liền có 11 ki lô mét bờ biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới). Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng (kể cả cảng ở qui mô trung chuyển thế giới), 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi đạt tiêu chuẩn quốc tế để phát triển du lịch biển. Ven bờ biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp và hơn 6 vạn héc ta ruộng muối biển. Nguồn lợi hải sản khá phong phú với 75 loài tôm, 25 loài mực, 2.100 loài cá, 7 loài bạch tuộc cùng nhiều loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao như trai ngọc, vẹm, hào, bào ngư, sò huyết, ngao...

Ngoài ra, Việt Nam còn có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long, Bái Tử Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang…) và gần 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ. Tuy phân bổ các đảo không đều, nhưng tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam đều có các đảo che chắn ở mức độ khác nhau. Dân số vùng duyên hải chiếm khoảng 39% dân số cả nước. 

So với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang sở hữu một nguồn tài nguyên vô giá về biển. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực.

Tiềm năng và nguồn lợi biển của Việt Nam là yếu tố và tác nhân cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay và trong tương lai.

Về  Dầu khí: Tổng trữ lượng dự báo địa chất của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác 4 – 5 tỷ tấn. Trữ lượng khí đồng hành 250 – 300 tỷ m3. Dầu khí đang có triển vọng lớn với các điều kiện khai thác thuận lợi.

Các năng lượng khác: Việt Nam được đánh giá là đất nước có tiềm năng lớn phát triển nguồn năng lượng từ biển cho sản xuất điện. Nguồn năng lượng này hay còn gọi là năng lượng tái tạo đến từ thuỷ triều, gió, chênh lệch nhiệt, dòng chảy và sóng. Trong đó, năng lượng gió và sóng là những nguồn năng lượng được đánh giá là có nhiều tiềm năng nhất ở Việt Nam.

Hải sản: Trữ lượng đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao, chưa được khai thác đúng mức, chỉ mới đạt 60% mức có thể khai thác được hàng năm.

Vận tải biển: Ngành vận tải biển của Việt Nam mới chỉ chiếm 16% thị phần hàng hóa xuất nhập khẩu của quốc gia.

Công nghiệp tàu biển vừa khởi sắc trong 3 năm gần đây, đã đóng nhiều chủng loại tàu có trọng tải lớn đến 10 vạn tấn để xuất khẩu, là ngành mũi nhọn của kinh tế biển, hứa hẹn nhiều triển vọng tốt.

Du lịch biển và các ngành dịch vụ biển khác đã có những đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP của đất nước./.

 
• tkts