Hai mươi năm đổi mới, cũng là 20 năm thế giới biết đến công cuộc cải cách đổi mới ở Việt Nam như là một trong những ví dụ thành công nhất về chuyển đổi nền kinh tế trong lịch sử đương đại. Việt Nam đã đạt được những thành tựu toàn diện to lớn và hết sức quan trọng, từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện.

Sau 20 năm đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu quan trọng
- 1986-1990: Tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hoá Xã hội Chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế- xã hội và giải phóng sức sản xuất.
- 1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng đình trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện. Tổng sản phẩm trong nước bình quân năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
- Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra, liên tiếp đặt nền kinh tế Việt Nam trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng. Tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
- Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD. Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.
- Từ năm 2005 đến nay: Việt Nam bước vào thực hiện kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội 5 năm: 2006 - 2010 trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen nhau. Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới ( WTO).

Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh ước tính tăng 8,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29%. Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phần trăm.
Về Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97% năm 2005 lên 41,52% trong năm 2006; khu vực dịch vụ tăng từ 38,01% lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02% xuống còn 20,40%.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2006 tiếp tục phát triển. Tính từ đầu năm đến 18/12/2006, cả nước có 797 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 7,57 tỷ USD, bình quân 1 dự án đạt 9,5 triệu USD, 486 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 2,36 tỷ USD; tính chung cả cấp mới và tăng vốn đến ngày 18/12/2006 đạt 9,9 tỷ USD và như vậy cả năm 2006 sẽ đạt trên 10 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là một trong những sự kiện kinh tế nổi bật nhất trong năm 2006.
Năm 2007 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006-2010, hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt đều đạt được những kết quả vượt trội so với năm 2006 và tạo đà cho những năm tiếp theo phát triển mạnh hơn. Năm 2007, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,48, mức tăng của giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp đều đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra; kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng 21,5% cao hơn mức Quốc hội đề ra; nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp tăng nhanh; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007. Các lĩnh vực xã hội khác như giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục thể thao cũng có những tiến bộ lớn, quan trọng.
Kinh tế-xã hội Việt Nam năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường: giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; ở trong nước thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống dân cư.
Đảng, Chính phủ đã kịp thời đề ra 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. GDP theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%. Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng đóng góp 2,65 điểm phần trăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm. Trong bối cảnh khó khăn gay gắt thì đây là một cố gắng rất lớn.
Năm 2008 có 8 nhóm hàng/mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD; gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8 tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2 tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2007 là gạo và cà phê. Tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước năm 2008 ước tính 13,5%, thấp hơn với mức 14,8% của năm 2007.
Năm 2009, vượt qua nhiều thách thức, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan:
1. Việt Nam sớm thoát khỏi ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam đã có độ mở lớn với thế giới thông qua kim ngạch xuất khẩu cũng như đóng góp của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng sản phẩm trong nước. Thời điểm đầu năm 2009, đã có tổ chức quốc tế dự báo Việt Nam chỉ tăng trưởng GDP 0,3%, tuy nhiên, bằng những quyết sách hợp lý và uyển chuyển, trong đó có chính sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn cho doanh nghiệp, nới lỏng tiền tệ, Việt Nam không những khỏi khỏi khủng hoảng sớm, mà còn là một trong số ít nước trên thế giới có tốc độ tăng trưởng GDP dương (5,2%). Dòng vốn đầu tư nước ngoài cả trực tiếp lẫn gián tiếp vẫn tiếp tục chảy vào và mới đây các quốc gia tài trợ vẫn cam kết mức vốn ODA cao nhất từ trước tới nay.
2. Gạo xuất khẩu đạt mức kỷ lục
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới
Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, đạt mức kỷ lục từ trước đến nay, tăng hơn 33% so với năm 2007 (4,5 triệu tấn), tăng 30,4% so với năm 2008 (4,6 triệu tấn).
3.Cam kết ODA lần đầu tiên vượt ngưỡng 8 tỉ USDTại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG-2009), cộng đồng tài trợ quốc tế đã cam kết dành cho Việt Nam 8,063tỷ USA vốn QDA trong năm tài khoá 2010. Đây là mức cam kết kỷ lục từ trước đến nay, đặc biệt trong bối cảnh kinh thế giới đang gặp nhiều khó khăn, việc tiếp cận các nguồn vốn vay bị hạn chế.
Trong nhiều năm trở lại đây, cam kết ODA cho Việt Nam liên tiếp lập kỷ lục mới. Nếu như năm 2005 là 3,7 tỉ USD thì năm 2006 đã tăng lên hơn 4,4 tỉ USD; năm 2007 lên 5,426 tỉ USD và năm 2008 là 5,015 tỉ USD. Con số cam kết của năm 2009 này đã vượt xa mọi kỷ lục trước đó, chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và mức giải ngân được coi là có nhiều chuyển biến tích cực.
4. Thị trường tài chính, ngoại hối biến động mạnh Ngày 25.11/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định tăng lãi suất cơ bản, tăng tỉ giá giao dịch VND/USD trên thị trường liên ngân hàng, đồng thời Chính phủ yêu cầu các Tổng công ty, tập đoàn lớn bán ngoại tệ ra để bình ổn thị trường. Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 đã trở lại vị thế là thị trường tăng trưởng mạnh nhất thế giới với mức tăng 152,3% trong vòng 8 tháng đầu năm. Hệ quả của chính sách nới lỏng tiền tệ đã kích thích thị trường tài chính phục hồi nhanh chóng. Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là rẻ trong khu vực với triển vọng tăng trưởng GDP trên 6% vào năm 2010. 5.Triển khai đồng loạt các dự án kích thích kinh tếNăm 2009, Chính phủ triển khai hàng loạt các giải pháp kính thích kinh tế. Hơn 30 dự án mở các tuyến đường không, đường sông, đường sắt, đường biển và đường bộ... với nguồn vốn hàng tỉ USD đã được khởi công hoặc chuẩn bị đầu tư là một kỷ lục về đầu tư hạ tầng giao thông. Đặc biệt, chủ trương xã hội hoá đầu tư hạ tầng được thể hiện bằng nhiều chính sách ưu đãi cụ thể, thu hút vốn từ doanh nghiệp và cá nhân đầu tư các dự án lên tới 10.000 tỉ đồng, bên cạnh nguồn vốn ngân sách 8.500 tỉ đồng và vốn trái phiếu chính phủ 13.000 tỉ đồng.
Người dân được hưởng lợi từ các dự án kích thích kinh tế
Bên cạnh đó, lần đầu tiên Chính phủ ra hẳn một nghị quyết với nhiều chính ưu đãi để kích cầu thị trường nhà ở tập trung vào các đối tượng người thu nhập thấp, học sinh - sinh viên, công nhân các khu chế xuất, khu công nghiệp. Theo đó, chủ đầu tư các dự án này được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong phạm vi dự án, được tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất gấp 1,5 lần so với quy định. Nhà đầu tư xây nhà giá thấp được hỗ trợ tín dụng đầu tư từ các nguồn: Vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc bù lãi suất theo quy định; vay từ quỹ phát triển nhà ở của địa phương và các nguồn vốn vay ưu đãi khác; được UBND cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay.
Dự kiến, với chính sách trên, đến năm 2015, khoảng 60% số sinh viên các cơ sở đào tạo và 50% số công nhân lao động tại các khu công nghiệp sẽ được đáp ứng chỗ ở.
6.Tỉ lệ tăng dân số thấp nhất trong 50 năm qua
Năm 2009, Việt Nam đạt mức gia tăng dân số chỉ còn 1,2%, mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ, VN đã chạm đến thời kỳ có tỉ lệ tăng dân số thấp nhất trong 50 năm qua. Tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng cao, đạt đến ngưỡng 73 tuổi.
Chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang dân số già hoá với mức sinh giảm và tử vong thấp, Việt Nam cũng chính thức bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng. Từ năm 1979 – 2008, tỉ lệ dân số phụ thuộc (gồm trẻ và dưới 15 tuổi và người già trên 60 tuổi) giảm từ 98,5% xuống còn 53%. Từ năm 2010, tỉ lệ này sẽ giảm xuống tiếp 50% và duy trì ở mức 46 – 48% trong vòng 30 năm tới.
7.Thông qua Luật Giáo dục sửa đổi
Năm 2009, Quốc hội đã thông qua Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục. Luật sửa đổi đã tập trung giải quyết được ở mức độ nhất định một số vấn đề bức xúc hiện nay như: Quy định phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; quy định chặt chẽ hơn việc biên soạn chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa; quy định về công khai tiêu chuẩn, kiểm định chất lượng giáo dục, thẩm quyền cho phép thành lập trường đại học, quy định cụ thể về quản lý hoạt động đầu tư giáo dục có yếu tố nước ngoài, quản lý dịch vụ du học, chương trình giảng dạy...
Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á 2009 (ADO), ấn phẩm thường niên của ADB dự báo về các xu hướng kinh tế ở Châu Á nhận định, với chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng, sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư trong nước được thúc đẩy khi các biện pháp kích thích tài chính tác động đến toàn bộ nền kinh tế, tăng trưởng của Việt Nam dự kiến sẽ phục hồi ở mức 6,5% trong năm 2010.