Hỏi đáp
Gửi lúc 09:18, Thứ Sáu, 20/8/2010
Bố mẹ tôi là người Việt Nam, nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Thái Lan. Giờ tôi muốn tìm hiều xem hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm những nội dung gì? để mục đích đưa một số anh chị em sang đây làm ăn?
Trả Lời:

Hỏi:Bố mẹ tôi là người Việt Nam, nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Thái Lan. Giờ tôi muốn tìm hiều xem hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm những nội dung gì? để mục đích đưa một số anh chị em sang đây làm ăn?
                                                                                          (Liên Hương, Việt kiều Thái Lan)

Trả lời:

 Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm những nội dung sau:

- Ký kết các hợp đồng liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài;


- Tuyển chọn lao động;


- Dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động; tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài;


- Thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

- Quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; 


- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài;


- Thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài;


- Các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân có liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Gửi lúc 09:14, Thứ Sáu, 20/8/2010
Tôi đang sinh sống tại Bỉ. Tôi và một vài người bạn muốn về Việt Nam để thuê nhà mở công ty. Xin cho tôi hỏi, những đối tượng nào thì được thuê nhà tại Việt Nam?
Trả Lời:
Hỏi: Tôi đang sinh sống tại Bỉ. Tôi và một vài người bạn muốn về Việt Nam để thuê nhà mở công ty. Xin cho tôi hỏi, những đối tượng nà o thì được thuê nhà ở Việt Nam                                                                                                      (Quốc Huy, Việt kiều Bỉ)


Trả lời:

Những đối tượng được thuê nhà tại Việt Nam bao gồm:

a) Tổ chức nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam;

b) Cá nhân nước ngoài được phép vào Việt Nam có thời hạn từ ba tháng liên tục trở lên;

c) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang ở Việt Nam có nhu cầu thuê nhà ở.

Gửi lúc 09:07, Thứ Sáu, 20/8/2010
Xin cho biết việc xử lý hành vi vi phạm quy định về việc sở hữu một nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trả Lời:
Câu hỏi:
Xin cho biết việc xử lý hành vi vi phạm quy định về việc sở hữu một nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài?
                                                                                                                           (Diệp Chi, Việt kiều Áo)

Trả lời:

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở nếu giả mạo giấy tờ hoặc có các hành vi vi phạm khác để được sở hữu nhiều hơn một nhà ở tại Việt Nam thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó; nếu đã được cấp giấy chứng nhận thì phải thực hiện bán nhà ở đó trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày hành vi vi phạm bị phát hiện, đồng thời bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, phát triển nhà ở.

2. Trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người có hành vi vi phạm chưa bán nhà ở thì bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đã được cấp; nhà ở chưa bán thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam.

3. Cán bộ, công chức và những người có liên quan nếu có hành vi vi phạm các quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và các quy định của pháp luật có liên quan.

Gửi lúc 08:04, Thứ Hai, 26/7/2010
Vợ chồng tôi hiện thường trú tại CHLB Đức. Chúng tôi có một căn nhà nằm trên mảnh đất mua lại của người anh ruột (mua sau khi hai người đã kết hôn), nhưng trên Giấy chứng nhận Quyền Sở hữu nhà và Quyền Sử dụng đất ở đã được cấp chỉ có một mình tôi đứng tên chủ sở hữu và sử dụng.
Trả Lời:
Hỏi: Vợ chồng tôi hiện thường trú tại CHLB Đức. Chúng tôi có một căn nhà nằm trên mảnh đất mua lại của người anh ruột (mua sau khi hai người đã kết hôn), nhưng trên Giấy chứng nhận Quyền Sở hữu nhà và Quyền Sử dụng đất ở đã được cấp chỉ có một mình tôi đứng tên chủ sở hữu và sử dụng (Không có một giấy tờ gì nêu lý do, hoặc thỏa thuận về việc một mình tôi đứng tên sổ đỏ)... Vậy xin hỏi:

1- Trong trường này, tôi có quyền một mình làm hợp đồng bán, hoặc tặng, cho v.v…  mà không cần sự đồng ý của vợ tôi hay không? Nếu hợp đồng bán, tặng, cho do một mình tôi ký thì có hợp pháp không?

2- Nếu cả vợ và chồng cùng đứng tên Giấy chứng nhận Quyền Sở hữu nhà và Quyền Sử dụng đất ở (có nghĩa là tài sản này là của chung của cả hai vợ và chồng, kể cả lý và tình), vậy xin hỏi trong trường hợp này, tôi có quyền bán, hoặc tặng, cho một nửa phần giá trị tài sản của tôi không? Nếu hợp đồng bán, tặng, cho một nửa phần giá trị tài sản của tôi do một mình tôi ký thì có hợp pháp hay không?

 

                                                                                                     (Hoàng Nam, Việt kiều Đức)
Trả lời:

Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000, tại Điều 27 quy định: Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. 

Theo quy định tại Điều 43 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ Điều 12 của Luật Nhà ở năm 2005 thì: quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Đối với nhà ở: nếu nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì ghi đủ tên của cả vợ và chồng.

Áp dụng quy định pháp luật trên đây với trường hợp của ông thì bất động sản nêu trên là sở hữu chung của vợ chồng ông. Mặc dù, Giấy chứng nhận Quyền Sở hữu nhà và Quyền Sử dụng đất chỉ đứng tên ông, nhưng không có tài liệu nào chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của ông theo thỏa thuận hợp pháp của vợ chồng ông.

1. Theo quy định tại Điều 96 của Luật Nhà ở Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà ở phải được sự đồng ý của tất cả chủ sở hữu tài sản chung thì mới đủ điều kiện để giao dịch. Nếu chỉ có chữ kí của ông đối với các giao dịch về nhà ở như: bán, tặng cho thì sẽ không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trong việc thực hiện thủ tục đăng kí giao dịch bất động sản hợp pháp.

2. Nếu ông muốn bán hoặc tặng cho phần giá trị bất động sản của mình trong khối tài sản chung thì vẫn phải được sự đồng ý của vợ ông (có chữ kí của vợ ông) thì giao dịch đó mới được coi là hợp pháp. Trừ khi ông thỏa thuận với vợ về việc phân chia tài sản riêng và thực hiện thủ tục đăng kí đứng tên trên tài sản riêng theo quy định của pháp luật thì mới có quyền tự quyết trong giao dịch bán hoặc tặng cho bất động sản.

Gửi lúc 09:58, Thứ Tư, 21/7/2010
Xin cho hỏi thủ tục xác nhận nguồn gốc Việt Nam quy định đối với người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước?
Trả Lời:


Hỏi: cho hỏi thủ tục xác nhận nguồn gốc Việt Nam quy định đối với người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước?
                                                                                                     (Hùng Cường, Việt kiều Mỹ)

Trả lời:

Việc xác nhận nguồn gốc Việt Nam chỉ áp dụng đối với người có quốc tịch Việt Nam định cư ở nước ngoài và người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác. Đối với những người còn mang hộ chiếu hợp lệ của Việt Nam thì không cần xác nhận nguồn gốc Việt Nam.

1.  Khi xin xác nhận nguồn gốc Việt Nam, đương sự cần đáp ứng đủ các điều kiện và thủ tục sau:

- Có đơn xin xác nhận nguồn gốc Việt Nam (theo mẫu).

- Xuất trình một trong các giấy tờ hợp lệ (kể cả những giấy tờ cấp trước năm 1975) như: giấy khai sinh, chứng minh thư, thẻ căn cước, sổ đăng ký hộ khẩu (hoặc sổ gia đình), giấy chứng nhận kết hôn, hộ chiếu cũ, v.v… chứng minh bản thân hiện nay hoặc đã từng có quốc tịch Việt Nam hoặc có cha hoặc mẹ là người hiện nay hoặc đã từng có quốc tịch Việt Nam.

- Có hộ chiếu nước ngoài hợp lệ.

2. Thẩm quyền cấp xác nhận nguồn gốc Việt Nam.

- Cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài;

- Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài;

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc TW.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam cấp giấy xác nhận nguồn gốc Việt Nam hoặc hợp pháp hoá các giấy tờ xác nhận nguồn gốc Việt Nam do nước ngoài cấp.

 

Gửi lúc 09:32, Thứ Tư, 21/7/2010
Tôi là Việt kiều hiện đang định cư tại Đức, nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Cha mẹ tôi tại Việt Nam muốn chia phần cho tôi một mảnh đất (có sổ đỏ). Vậy tôi có quyền đứng tên và xây dựng trên mảnh đất đó không?
Trả Lời:
Hỏi: Tôi là Việt kiều hiện đang định cư tại Đức, nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Cha mẹ tôi tại Việt Nam muốn chia phần cho tôi một mảnh đất (có sổ đỏ). Vậy tôi có quyền đứng tên và xây dựng trên mảnh đất đó không? Trường hợp cha mẹ tôi cho tôi nhưng hiện tại tôi chưa được đứng tên và sử dụng thì cha mẹ tôi làm giấy cho tôi và ký gửi tại phòng lưu hồ sơ của Tòa án thì sau này tôi về có thể lấy lại và được đứng tên sử dụng không? Thủ tục ký gửi thế nào? Hay có cách nào để cha mẹ tôi cho tôi đất mà tôi có thể đứng tên và sử dụng được không? Trường hợp tôi được cho đất nhưng tôi ủy quyền lại cho ai đó ở Việt Nam trông nom đất thì phải làm cách nào để về sau không bị người được ủy quyền giành mất đất?

                                                                                                                     (Bảo Anh, Việt kiều Đức)                                                                                                                       
Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 6, Điều 113 Luật Đất đai 2003 thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có quyền tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên, đối tượng được nhận tặng cho phải thuộc một trong các đối tượng sau:
_       Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam; 
_       Người có công đóng góp với đất nước; 
_       Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước; 
_       Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam;

Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai quy định các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất:

1.       Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.  
2.       Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.  
3.       Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước. 
4.       Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; trong khu vực rừng phòng hộ nếu không sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đó.

Như vậy, ông (bà) có quyền nhận tặng cho quyền sử dụng đất của cha, mẹ khi thỏa mãn các điều kiện pháp lý nêu trên.  Trong trường hợp, ông (bà) không đủ điều kiện để đứng tên trên Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất tặng cho thì vẫn được hưởng giá trị của đất đó. Ông (bà) có thể ủy quyền bằng văn bản cho người trông nom hoặc tạm sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai.

Việc ủy quyền cho người trông nom, quản lý đất đai phải được thực hiện tại Phòng Công chứng. Văn bản ủy quyền quản lý, trong nom đất đai lập tại Phòng Công chứng này sẽ là cơ sở pháp lý chứng minh quyền sở hữu của ông (bà) đối với đất đai khi có tranh chấp xẩy ra.

Trang: 
[1]