Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Để di sản Nghệ An “sống” và trở thành thương hiệu du lịch văn hóa quốc gia

Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An, Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương – Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Quốc tế QP Việt Nam, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Báo chí và Truyền thông (Học viện Báo chí – Tuyên truyền) đã có những gợi mở nhằm thay đổi tư duy từ "quản lý di sản" sang "kinh doanh văn hóa" tại Nghệ An.

Báo Nghệ AnBáo Nghệ An21/01/2026

PV: Ở thế kỷ mà “Công nghiệp văn hóa sẽ là thứ tối thượng quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia” (Peter Drucker), theo Tiến sĩ, thế mạnh văn hóa của du lịch Nghệ An là gì?

4d69000255abdaf583ba.jpg

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương chia sẻ tại Hội thảo khoa học "Nghệ An - Phát triển tiềm năng và thu hút đầu tư du lịch" năm 2025. Ảnh: NVCC

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương: Nếu coi ngành công nghiệp văn hóa là yếu tố “tối thượng quyết định sự thành bại của các quốc gia” thì Nghệ An đang sở hữu “nguồn tài nguyên thượng hạng" mà bất cứ điểm đến nào cũng phải khao khát.

Chúng ta có vốn văn hóa đồ sộ và đặc sắc. Chúng ta có Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên – quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một điểm đến du lịch, mà là một biểu tượng tinh thần có sức thu hút tự nhiên, mãnh liệt đối với mọi trái tim người Việt và bạn bè quốc tế. Bên cạnh đó là Dân ca Ví, Giặm – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO vinh danh; cùng hệ thống tâm linh, di tích lịch sử dày đặc như Đền Chung Sơn, Truông Bồn, Đền Cờn… Đây chính là nguyên liệu gốc để tạo nên những sản phẩm du lịch có chiều sâu văn hóa mang tâm hồn và trí tuệ bản địa.

Chúng ta có một thương hiệu địa phương mạnh. Nghệ An từ lâu đã được định vị là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của những con người kiệt xuất. Giá trị này dựa trên bề dày lịch sử, truyền thống hiếu học và tinh thần yêu nước quật cường của các thế hệ người Nghệ An. Trong du lịch văn hóa, "câu chuyện" về con người chính là sức hút bền vững nhất.

Và chúng ta có một thị trường khách du lịch lớn và ổn định với dòng khách "về nguồn" và du lịch tâm linh rất đặc thù, ít chịu tác động bởi các biến động kinh tế. Bên cạnh đó, nền tảng số hóa đang dần hình thành. Những bước đi đầu tiên như dự án "Một chạm đến quê Bác" sử dụng công nghệ VR360 đã cho thấy sự nhạy bén trong việc dùng công nghệ để xóa bỏ rào cản địa lý, đưa di sản đến gần hơn với công chúng…

PV:  chúng ta có một thị trường khách du lịch lớn và ổn định với dòng khách "về nguồn" và du lịch tâm linh rất đặc thù, ít chịu tác động bởi các biến động kinh tế. Bên cạnh đó, nền tảng số hóa đang dần hình thành. Những bước đi đầu tiên như dự án "Một chạm đến quê Bác" sử dụng công nghệ VR360 đã cho thấy sự nhạy bén trong việc dùng công nghệ để xóa bỏ rào cản địa lý, đưa di sản đến gần hơn với công chúng… Tất cả những thế mạnh này đã đủ tạo nên một nền tảng vững chắc để Nghệ An thực hiện cú nhảy vọt: từ việc quản lý di sản thuần túy sang kinh doanh văn hóa chuyên nghiệp chưa?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương: Đúng là Nghệ An đã có những mảnh ghép đầu tiên rất đẹp cho một bức tranh công nghiệp văn hóa kiểu mẫu. Nhưng vẫn còn cần những yếu tố quan trọng nữa để kết nối mảnh ghép thành một bức tranh hoàn chỉnh và sống động.

Thứ nhất là sự vắng bóng của các chủ thể doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư cho những sản phẩm du lịch văn hóa đẳng cấp quốc gia và quốc tế.

Dự án Một chạm đến Quê Bác ứng dụng công nghệ để phục vụ du khách. Ảnh NVCC

Dự án "Một chạm đến Quê Bác" đã thành công tái hiện toàn bộ các địa điểm tại Khu di tích Kim Liên bằng công nghệ thực tế ảo. Ảnh: NVCC

Hoạt động du lịch hiện đang vận hành chủ yếu bằng tư duy hành chính sự nghiệp. Chúng ta đang thiếu vắng những "Sếu đầu đàn" – các tập đoàn lớn trong mảng sáng tạo nội dung và vận hành chuyên nghiệp. Nhà nước giữ vai trò quản lý và bảo tồn, nhưng bộ máy để biến di sản, tài nguyên văn hóa thành sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao, đáp ứng các đòi hỏi của thị trường phải là doanh nghiệp.

Thứ hai, chuỗi giá trị bị đứt gãy khi các sản phẩm cần có trong hành trình trải nghiệm của khách hàng vừa thiếu vừa yếu. Ví dụ như sản phẩm lưu niệm của chúng ta còn quá đơn điệu, thiếu thẩm mỹ trong khi lẽ ra đây phải vừa là nguồn thu, vừa là phương tiện quảng bá; dịch vụ cung cấp mới dừng ở mức thiết yếu, chưa đầu tư nhiều cho trải nghiệm, thiếu không gian sáng tạo.

Ba là công nghệ "nửa vời". Việc ứng dụng công nghệ hiện nay mới dừng lại ở mức cơ bản như quét mã QR hay VR360 ở cấp độ cơ bản. Thế giới đã đi tới công nghệ nhập vai (Immersive), nơi du khách được thực sự "sống" trong câu chuyện di sản, còn chúng ta vẫn chỉ dừng lại ở việc cho du khách "xem" và "nghe".

PV: Nghệ An có thể học hỏi từ những bài học kinh điển nào của du lịch các nước khác trên thế giới? Bà có thể phân tích cụ thể từng trường hợp để thấy rõ khả năng ứng dụng tại địa phương không?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương: Thế giới đã có những mô hình rất thành công trong việc biến những di sản tưởng chừng như khô khan hoặc tĩnh lặng trở thành những cỗ máy kinh tế văn hóa khổng lồ. Tôi muốn phân tích ba trường hợp điển hình từ Trung Quốc, Pháp và Tây Ban Nha để chúng ta thấy rõ: Công nghệ, Quản trị thương hiệu và Tính nhân văn có thể thay đổi cục diện như thế nào.

Trường hợp thứ nhất là Dự án “Dải Băng Đỏ” (Red Ribbon) tại Quý Châu, Trung Quốc. Đây là bài học đắt giá về việc thu hút thế hệ trẻ (Gen Z) đến với lịch sử cách mạng – điều mà chúng ta gọi là "Du lịch Đỏ". Thay vì chỉ trưng bày hiện vật, họ biến tư liệu lịch sử thành một "bữa tiệc thị giác" đỉnh cao. Họ sử dụng nhà hát thực cảnh số với màn hình LED cầu 20m và rạp chiếu phim bay (flying cinema). Kết quả là hàng triệu bạn trẻ đã đổ xô đến để "check-in" và trải nghiệm cảm giác sống động của cuộc Vạn Lý Trường Chinh.

Ảnh chụp Màn hình 2026-01-17 lúc 17.49.28

Nghệ thuật và công nghệ được ứng dụng tại Dự án “Dải Băng Đỏ” (Red Ribbon) tại Quý Châu, Trung Quốc. Ảnh: NVCC

Chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một "Nhà hát thực cảnh số" ngay tại Kim Liên nơi du khách được “ngồi trên con tàu Latouche – Tréville” để nhập vai cùng người thanh niên Nguyễn Tất Thành vượt đại dương đi tìm đường cứu nước. Khi lịch sử được trình diễn bằng ngôn ngữ của công nghệ và nghệ thuật nhập vai, nó sẽ không còn khô khan mà trở nên đầy sức hút với giới trẻ.

Trường hợp thứ hai là Nhà danh họa Monet tại Giverny (Pháp). Đây là bài học về quản trị thương hiệu và nghệ thuật Merchandising (kinh doanh sản phẩm phụ trợ). Họ không chỉ bán vé tham quan khu vườn và ngôi nhà; họ bán "phong cách sống của Monet". Từ việc phục dựng tỉ mỉ không gian sống đến việc vận hành cửa hàng lưu niệm rộng 300mbán những sản phẩm thiết kế riêng như khăn lụa, đồ gốm, hay thậm chí là hạt giống theo gu thẩm mỹ của người nghệ sĩ. Họ đón 600.000 khách chỉ trong 7 tháng và thu lợi nhuận khổng lồ từ sản phẩm phụ trợ.

Chúng ta phải chấm dứt kỷ nguyên của những món đồ lưu niệm rẻ tiền, đơn điệu. Nghệ An cần chuẩn hóa quà tặng thương hiệu "Sen Kim Liên" với các dòng sản phẩm cao cấp như trà sen, lụa tơ sen, gốm sứ thiết kế độc bản. Chúng ta phải bán "hồn cốt xứ Nghệ" chứ không chỉ bán một món đồ vật lý.

Trường hợp thứ ba là Casa Batlló của kiến trúc sư Gaudí tại Tây Ban Nha. Đây là đỉnh cao của sáng tạo xã hội và kinh tế đêm. Họ thuê người tự kỷ làm nhân viên chăm sóc khách hàng – một hành động nhân văn chạm đến trái tim du khách. Đặc biệt, họ tổ chức các tour đêm "Magic Nights" kết hợp tham quan với hòa nhạc và thưởng thức rượu vang, sử dụng công nghệ 10D với phòng "Gaudí Cube" có LED 6 mặt tạo trải nghiệm đa giác quan.

Ảnh chụp Màn hình 2026-01-17 lúc 17.47.42

Tour đêm "Magic Nights" tại Casa Batlló (Tây Ban Nha).

Tại sao chúng ta không phát triển tour đêm tâm linh tại Đền Chung Sơn? Hãy tưởng tượng một không gian lung linh kết hợp giữa việc dâng hương, thực hành thiền và thưởng thức ngâm thơ, hát Ví, Giặm trong màn đêm huyền ảo. Đó chính là cách để kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu của khách.

PV: Những bài học đó thật sự là những gợi ý đắt giá. Vậy để hiện thực hóa tầm nhìn phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2025-2035, bà có khuyến nghị chiến lược tổng thể nào không?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương: Tôi đề xuất áp dụng mô hình "Kiềng ba chân". Đây là cấu trúc chiến lược nhằm chuyển đổi toàn diện từ tư duy quản lý di sản sang tư duy kinh doanh văn hóa. Mô hình này tập trung vào ba trụ cột cốt lõi:

Đầu tiên là tái cấu trúc Quản trị (PPP). Đây là "chân kiềng" quan trọng nhất để phá vỡ tư duy hành chính sự nghiệp đang kìm hãm sự sáng tạo. Chúng ta cần thí điểm hợp tác công - tư tại các khu vực dịch vụ của di tích. Nhà nước vẫn nắm quyền quản lý cốt lõi, nhưng hãy trao quyền khai thác dịch vụ cho các doanh nghiệp chuyên nghiệp, và đưa ra những chính sách đầu tư thu hút “sếu đầu đàn”. Họ có nguồn lực, có sự linh hoạt và có đội ngũ sáng tạo để đầu tư bài bản vào hạ tầng, marketing và làm mới sản phẩm liên tục.

Bên cạnh đó, xây dựng hệ sinh thái sản phẩm 3 tầng. Chúng ta không thể chỉ bán một thứ cho mọi đối tượng. Sản phẩm cần được phân lớp. Tầng 1 là đại chúng, chuẩn hóa hoạt động tham quan di tích truyền thống, đảm bảo tính trang nghiêm và chuyên nghiệp. Tầng 2 là trải nghiệm, tạo ra "điểm neo" cảm xúc. Cần có show diễn thực cảnh quy mô có thể mang tên "Người về từ Làng Sen" và các Trung tâm trải nghiệm số ứng dụng VR/AR. Điều này sẽ giúp giải quyết triệt để vấn đề khách chỉ "thăm viếng" (Touch & Go). Tầng 3 là tầng cao cấp, tập trung vào du lịch chữa lành (Wellness), các tour đêm tâm linh chuyên sâu và cung cấp quà tặng thiết kế độc bản cho phân khúc khách hàng cao cấp.

bna_den-chung-son-anh-huy-thu(1).jpg

Quần thể di tích Đền Chung Sơn. Ảnh: Huy Thư

Cuối cùng, cần thay đổi chiến lược marketing và sáng tạo. Chúng ta phải thay đổi cách kể chuyện. Thay vì liệt kê các con số lịch sử khô khan, hãy xây dựng câu chuyện marketing xoay quanh thông điệp "Vùng đất của những tâm hồn kiệt xuất" (Land of Great Souls) để tạo sự kiêu hãnh và tò mò. Đồng thời, tôi kiến nghị tổ chức cuộc thi "Nghệ Design Award" để huy động trí tuệ của cộng đồng sáng tạo trong việc thiết kế quà tặng từ di sản. Khi chúng ta hoàn thiện được chuỗi giá trị Merchandising, giá trị của di sản sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Mục tiêu cuối cùng của chiếc "Kiềng ba chân" này là biến di sản thành tài sản, đưa Nghệ An trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa, giáo dục và trải nghiệm tầm cỡ khu vực.

PV: Mô hình "Kiềng ba chân" mà bà đề xuất là một chiến lược toàn diện và có chiều sâu. Theo bà, để đưa những ý tưởng này từ bản thảo ra thực địa nên xây dựng lộ trình như thế nào để đảm bảo tính khả thi và bền vững?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương: Một chiến lược dù hay đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu một lộ trình thực thi khoa học. Với Nghệ An, tôi không kỳ vọng một sự thay đổi thần tốc trong một sớm một chiều, mà cần một chiến lược "vết dầu loang" với các cột mốc rõ ràng trong vòng 10 năm tới, chia làm 3 giai đoạn then chốt từ 2025 đến 2035.

Giai đoạn Kiến tạo nền tảng từ 2025 đến 2027. Đây là giai đoạn "dọn ổ để đón đại bàng” và đón những vận hội mới. Việc đầu tiên cần làm là quy hoạch lại không gian dịch vụ tại Nam Đàn, sắp xếp và tổ chức lại hạ tầng để sẵn sàng cho các hoạt động kinh doanh văn hóa chuyên nghiệp. Song song với đó, tỉnh cần mạnh dạn thí điểm cơ chế hợp tác công tư tại các khu vực dịch vụ của Khu di tích Kim Liên. Chúng ta cần những bản hợp đồng minh bạch để mời gọi các "Sếu đầu đàn" vào cuộc. Cũng trong giai đoạn này, Nghệ An cần chính thức ra mắt bộ nhận diện thương hiệu du lịch mới gắn liền với thông điệp "Vùng đất của những tâm hồn kiệt xuất". Đây sẽ là tấm căn cước mới để chúng ta bước ra thế giới với một tâm thế tự tin và khác biệt.

bna_bieu-dien-dan-ca-vi-giam-tai-mot-su-kien-tren-pho-di-bo-vinh.jpg

Giao lưu, biểu diễn ví, giặm tại Lễ hội đường phố "Quê hương mùa sen nở". Ảnh: Minh Quân

Giai đoạn 2 là tăng tốc sản phẩm, từ năm 2027 đến 2030. Sau khi đã có nền tảng quản trị và thương hiệu, đây là lúc chúng ta đưa các sản phẩm trải nghiệm dựa trên công nghệ và nghệ thuật vào vận hành thực tế. Điểm nhấn của giai đoạn này chính là việc khánh thành "Trung tâm trải nghiệm số Làng Sen". Tại đây, các công nghệ VR/AR, 3D Mapping sẽ giúp du khách "nhập vai" vào không gian văn hóa, lịch sử một cách choáng ngợp nhất. Đồng thời, tỉnh cần đưa các Show diễn thực cảnh quy mô lớn vào phục vụ định kỳ. Mục tiêu kinh tế của giai đoạn này rất cụ thể: Phấn đấu đưa các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% vào GRDP của tỉnh. Khi đó, du lịch không còn là ngành kinh tế "hỗ trợ" mà đã trở thành một trụ cột tăng trưởng thực thụ.

Giai đoạn 3 là cất cánh và lan tỏa, từ năm 2030 đến 2035. Đây là thời điểm chúng ta đưa văn hóa Nghệ An vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Chúng ta sẽ tập trung vào việc kết nối các tour du lịch quốc tế, đặc biệt là hành trình liên quốc gia theo trục Lào – Thái Lan – Việt Nam, lấy Nghệ An làm điểm dừng chân văn hóa trọng điểm. Không chỉ đón khách đến, chúng ta còn phải hướng tới việc "xuất khẩu" các sản phẩm văn hóa đặc thù của địa phương ra thị trường quốc tế thông qua các chuỗi giá trị Merchandising cao cấp. Mục tiêu quy mô đến năm 2035 là Nghệ An sẽ đón từ 18 đến 20 triệu lượt khách mỗi năm.

que-ngoai-chu-tich-ho-chi-minh-anh-thanh-cuong(1).jpg

Vẻ đẹp bình yên của Quê ngoại Bác Hồ. Ảnh: Thành Cường

Quan trọng hơn cả con số lượt khách là sự thay đổi về chất: Nghệ An sẽ trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa, giáo dục và trải nghiệm tầm cỡ khu vực. Di sản chỉ thực sự "sống" và có giá trị khi nó được hơi thở của thời đại thổi vào. Hãy dũng cảm thay đổi tư duy, từ chỗ chỉ "quản lý những gì mình có" sang "kiến tạo những gì du khách cần". Nghệ An đang đứng trước một cơ hội lịch sử để biến niềm tự hào về truyền thống, về Bác Hồ, về Ví Giặm trở thành sức mạnh kinh tế bền vững.

PV: Cảm ơn bà về cuộc trò chuyện!

Nguồn:https://baonghean.vn/de-di-san-nghe-an-song-va-tro-thanh-thuong-hieu-du-lich-van-hoa-quoc-gia-10320753.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Đập niêu ở hội làng

Đập niêu ở hội làng

Chúng mình cùng vui

Chúng mình cùng vui

Góc phố phường

Góc phố phường