Quảng Ninh có cơ cấu công nghiệp - dịch vụ lớn, nhiều lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ cao như khai thác than, xây dựng, cơ khí. Năm 2025, tai nạn lao động giảm, nhưng quý I/2026 vẫn xảy ra 6 vụ tai nạn chết người. Con số này cho thấy, nhiều rủi ro chưa được kiểm soát đến cùng. Trước thực tế đó, tỉnh yêu cầu các địa phương, doanh nghiệp siết chặt quản lý, rà soát quy trình, nhận diện mối nguy ngay từ hiện trường và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong kiểm soát an toàn. Tháng hành động trở thành cú hích để thay đổi cách làm, hướng tới quản lý thường xuyên, liên tục.
Tại Công ty Than Uông Bí, áp lực an toàn hiện hữu trong từng ca sản xuất khi khai thác xuống sâu, địa chất phức tạp, nguy cơ sạt lở, khí độc, bục nước luôn thường trực. Quý I/2026, đơn vị ghi nhận 9 vụ tai nạn lao động, trong đó có 1 vụ nghiêm trọng. Những con số này buộc doanh nghiệp không thể duy trì cách làm theo “cao điểm”, mà phải chuyển sang quản trị rủi ro liên tục, gắn với công nghệ và kỷ luật sản xuất.
Theo đó, đơn vị đã tập trung đổi mới ngay từ tổ chức sản xuất. Các lò chợ áp dụng cơ giới hóa đồng bộ với giàn chống thủy lực, máy khấu combai, băng tải tự động. Người lao động giảm làm việc trực tiếp tại gương than, khu vực nguy cơ cao. Đơn vị triển khai giàn chống mềm ZRY, áp dụng công nghệ 2ANSH trong khai thác vỉa dày, thay thế phương pháp chống giữ thủ công. Nhờ đó, mái lò ổn định hơn, nguy cơ sập đổ giảm rõ rệt.
Cùng với cơ giới hóa, Công ty đổi mới cách điều hành. Hệ thống vận tải hầm lò từng bước tự động hóa; thông tin giao ca, cảnh báo nguy cơ được cập nhật liên tục qua các kênh nội bộ. Khi dữ liệu được chia sẻ nhanh, các tổ, đội xử lý tình huống kịp thời, hạn chế rủi ro phát sinh. Quản lý không còn dựa vào kinh nghiệm đơn lẻ, mà dựa trên thông tin cụ thể, cập nhật theo thời gian thực.
Ở cấp tổ, đội, việc quản lý được “đẩy” sát hiện trường. Các phân xưởng duy trì họp đầu ca, gắn nhiệm vụ sản xuất với nhận diện mối nguy cụ thể. Công nhân kiểm tra thiết bị, điều kiện làm việc trước khi xuống lò. Khi phát hiện vi phạm, tổ, đội xử lý ngay trong ca, không để kéo dài. Mạng lưới an toàn vệ sinh viên theo sát từng công đoạn, phát hiện nguy cơ và kiến nghị biện pháp khắc phục đến cùng.
Anh Nguyễn Văn Linh, an toàn vệ sinh viên Phân xưởng Khai thác - Đào lò K11, chia sẻ: “Chúng tôi nhắc nhở anh em thực hiện đúng quy trình, phát hiện nguy cơ để xử lý kịp thời. Mỗi người phải tự bảo vệ mình và đồng đội trong quá trình làm việc”.
Từ góc độ quản lý, anh Phạm Văn Mạnh, Quản đốc Phân xưởng Khai thác - Đào lò K11, nhấn mạnh: “Chúng tôi gắn an toàn với toàn bộ quá trình sản xuất, từ giao ca, kiểm tra thiết bị đến thi công đều đặt yêu cầu kiểm soát rủi ro. Đơn vị rà soát điều kiện làm việc thường xuyên, điều chỉnh biện pháp phù hợp và xử lý nghiêm vi phạm ngay trong ca”.
Thực tế tại Than Uông Bí cho thấy, đổi mới ATVSLĐ không nằm ở khẩu hiệu mà nằm ở cách quản lý. Khi doanh nghiệp lấy hiện trường làm trung tâm, lấy công nghệ và kỷ luật làm công cụ, rủi ro được kiểm soát ngay từ đầu vào của quá trình sản xuất.
Ở cấp tỉnh, định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa bằng các giải pháp quản lý đồng bộ. Ông Lê Văn Sử, Trưởng phòng Chính sách lao động, Sở Nội vụ, cho biết: “Tỉnh yêu cầu nâng cao nhận thức đi đôi với hoàn thiện quy trình, tăng phân cấp trong quản lý và đẩy mạnh chuyển đổi số. Doanh nghiệp phải chủ động nhận diện nguy cơ, phòng ngừa từ sớm, từ xa”.
Cùng với thanh tra, kiểm tra, tỉnh tập trung tạo chuyển biến thực chất trong từng doanh nghiệp. Công tác ATVSLĐ không dừng ở tuyên truyền mà phải trở thành hành động thường xuyên, gắn với trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu và từng người lao động.
Tháng hành động vì vậy không chỉ là một đợt cao điểm, mà là thước đo cho năng lực quản lý an toàn. Khi quy trình được siết chặt, công nghệ được áp dụng và ý thức người lao động được nâng lên, an toàn sẽ không còn là mục tiêu ngắn hạn, mà trở thành nền nếp trong mỗi ca sản xuất.
Nguồn: https://baoquangninh.vn/doi-moi-quan-ly-trong-cong-tac-an-toan-3406907.html








Bình luận (0)