(Ảnh minh họa)

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa có Công văn số 332/HHNH-PLNV gửi Bộ Thông tin và Truyền thông (đơn vị chủ trì soạn thảo) góp ý dự thảo Nghị định quy định về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy. Theo đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam khẳng định quan điểm nhất quán tại các văn bản góp ý gần đây, tiếp tục kiến nghị điều chỉnh Điều 9 dự thảo Nghị định. Đồng thời, Hiệp hội cũng cho rằng, một số điểm trong dự thảo là chưa phù hợp với quy định của Luật Giao dịch điện tử 2023 và sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như làm tăng chi phí cho người dân và doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch điện tử với các tổ chức tín dụng.

“Gánh” nhiều chi phí để duy trì chữ ký số

Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, với các quy định tại dự thảo Nghị định, khách hàng (doanh nghiệp và cá nhân) phải thanh toán các khoản phí để được cấp, duy trì hiệu lực của chữ ký số với số tiền vô cùng lớn.

Cụ thể, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam lý giải, ngay khi Luật Giao dịch điện tử 2023 và dự thảo Nghị định có hiệu lực, người dân và doanh nghiệp giao dịch với ngân hàng trên môi trường điện tử phải mua chữ ký số của các tổ chức cung cấp chữ ký số công cộng (CA) và áp dụng vào các giao dịch trực tuyến với ngân hàng sẽ dẫn đến việc tốn kém chi phí cho toàn thể khách hàng (các chi phí này người dân và doanh nghiệp phải chi trả, ngân hàng không thể và không bao giờ chi trả chi phí này).

Theo ước tính một ngân hàng, chi phí chữ ký số có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng hằng năm, chi phí này sẽ được ngân hàng thu lại từ khách hàng (cá nhân và doanh nghiệp).

Hiện nay có khoảng gần 80% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng và nhiều ngân hàng đã có hơn 95% số lượng giao dịch được xử lý trên kênh số. Nếu theo quy định của dự thảo Nghị định, thì các loại nghiệp vụ chủ yếu của tổ chức tín dụng như nhận tiền tiết kiệm, nhận tiền gửi, cấp tín dụng, giao dịch ngoại tệ,… đều yêu cầu có chữ ký điện tử khi giao kết giao dịch.

Cũng theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, báo cáo của một trong 4 ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 27/6, số lượng khách hàng giao dịch trên kênh số ước tính khoảng 12 triệu khách hàng, với số lượng giao dịch 6,5 – 7 triệu giao dịch/ngày (cả năm khoảng 2,3 tỷ giao dịch, bình quân 500 giao dịch/giây). Như vậy, khi dự thảo Nghị định có hiệu lực, với chi phí khảo sát qua các CA trên thị trường từ 550.000 đến 1,8 triệu đồng/năm thì hằng năm khách hàng của ngân hàng này phải chi trả dịch vụ CA Provider lên đến từ 6.600-21.600 tỷ đồng chưa kể các chi phí phát sinh liên quan đến đầu tư hạ tầng, phát triển, vận hành hệ thống nội bộ cho ngân hàng và trang cấp chứng thư số cho cán bộ trong nội bộ.

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam dẫn giải thêm một thống kê từ một ngân hàng thương mại tư nhân lớn khác, theo đó, ngân hàng này hiện đang có khoảng 10,2 triệu khách hàng, lượng giao dịch trung bình phát sinh khoảng 750 triệu giao dịch tài chính/năm, tương đương trung bình 500 giao dịch/giây (số lượng giao dịch mà hệ thống có thể phải xử lý trong một giây cũng là số lượng giao dịch tối thiểu mà các công ty CA phải có khả năng xử lý).

Chi phí dự kiến phát sinh trong trường hợp toàn bộ các giao dịch trên phải sử dụng chữ ký số: Nếu mua chữ ký số theo năm: 800.000 đồng/năm (đơn giá trung bình của các nhà cung cấp CA/ Mobile CA), tổng mức chi phí để trang bị chữ ký số cho 10,2 triệu khách hàng là khoảng 8.160 tỷ đồng. Nếu mua chữ ký số theo giao dịch: 2.500 đồng/lần ký (Đơn giá trung bình ký theo lần từ các nhà cung cấp Mobile CA), tổng mức chi phí để trang bị chữ ký số 1.875 tỷ đồng. Chi phí sửa đổi các hệ thống để có thể tích hợp việc sử dụng chữ ký số cũng như lưu trữ các giao dịch đã thực hiện: chưa có con số chính xác nhưng dự kiến sẽ hơn 10 triệu USD.

“Đây là mức chi phí rất lớn nếu tính cả hệ thống các tổ chức tín dụng. Chi phí lớn này ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân và doanh nghiệp”, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nhấn mạnh.

Nguy cơ đối diện rủi ro khi phát sinh khiếu nại, tranh chấp

Cũng theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, các quy định tại dự thảo Nghị định còn chưa phù hợp khi không đáp ứng tính kịp thời trong việc cung cấp chứng từ, chứng cứ chứng minh khi phát sinh khiếu nại, tranh chấp với khách hàng.

Cụ thể, các hoạt động khiếu nại, tranh chấp và tố tụng, xử lý thu hồi nợ trong quá trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng hằng năm rất lớn, song khi ngân hàng cần xuất trình các chứng cứ chứng minh về thao tác của khách hàng, hiệu lực chữ ký số, chứng thư số hoặc các thông tin liên quan đến quá trình giao kết hợp đồng, văn kiện… ngân hàng sẽ phải đề nghị bằng văn bản gửi bên thứ 3 (bên cung cấp chữ ký số), như vậy vừa không bảo đảm tính kịp thời, phát sinh thêm thủ tục không đáng có bởi hệ thống công nghệ của các ngân hàng được đầu tư với số tiền vô cùng lớn đáp ứng đủ tiêu chuẩn quốc tế nếu được tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng cho khách hàng của mình.

Chưa kể, hệ thống bảo mật, xác thực của các bên cung cấp chữ ký số (với vốn điều lệ khoảng 30 tỷ đồng trở lên) cũng chưa có các đánh giá được mức độ tương thích với hệ thống bảo mật, xác thực giao dịch, xác thực khách hàng của từng ngân hàng, dẫn đến tình trạng cùng một giao dịch khách hàng có thể phải xác thực một số lần, giảm rất nhiều trải nghiệm của khách hàng, tăng thời gian giao dịch và gây cản trở việc thúc đẩy chuyển đổi số…

Ngoài ra, hoạt động giao dịch của ngân hàng phụ thuộc hoàn toàn vào một hoặc một vài tổ chức thứ ba về cung cấp chữ ký số công cộng gây rủi ro rất lớn cho ngành ngân hàng. Cụ thể, theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng khi giao kết giao dịch với khách hàng trên môi trường điện tử phải sử dụng chữ ký điện tử, chữ ký số theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và của Luật Giao dịch điện tử bởi các giao dịch tài chính ngân hàng là các giao dịch đặc thù, đòi hỏi sự chính xác cao và bảo đảm giá trị, bảo mật về mặt chứng từ, chứng cứ chứng minh khi phát sinh tranh chấp, tố tụng,…

Tuy nhiên, theo dự thảo Nghị định thì toàn bộ giao dịch của các tổ chức tín dụng trên môi trường điện tử hoàn toàn phụ thuộc vào 1 hoặc 1 số đơn vị cung cấp chữ ký số công cộng. “Điều quan ngại đặt ra là liệu các tổ chức này có bảo đảm độ bảo mật, sức tải của hệ thống cấp và ký số… có bảo đảm thông suốt an toàn với số lượng giao dịch vô cùng lớn, hàng chục tỷ giao dịch/năm. Vậy ai sẽ chịu trách nhiệm về hậu quả này khi các giao dịch bị chậm trễ hoặc ngừng trệ? Điều này ảnh hưởng tới mọi mặt của cuộc sống của người dân và doanh nghiệp và của chính tổ chức tín dụng”, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam băn khoăn.

Hiện nay, các chữ ký điện tử được áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng đều là các chữ ký được miễn phí hoặc có mức phí tượng trưng rất thấp để hỗ trợ người dùng. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cho biết, cơ quan này hoàn toàn đồng tình và ủng hộ hướng tới một xã hội văn minh, mỗi người dân nên có 1 chữ ký số sử dụng cho các giao dịch công ích cũng như kinh doanh, song cần phải xem xét trong bối cảnh thực tiễn từ cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, mức thích ứng dần của người dân, không làm xáo trộn hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như làm tăng chi phí đột biến cho người dân và doanh nghiệp… Chính vì vậy, trước mắt không nên bắt buộc, áp đặt người dân phải thực hiện chữ ký số.

“Luật Giao dịch điện tử 2023 đã mở ra hướng tạo điều kiện cho người dân được quyền lựa chọn các hình thức, trong đó có chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn. Khi người dân có mức thu nhập cao hơn, nhận thức và thấy rằng cần thiết phải có 1 chữ ký số cho riêng mình thì tự họ sẽ lựa chọn và quyết định, các quy định dưới luật không nên áp đặt để tăng chi phí cho người dân và doanh nghiệp”, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nêu quan điểm.

Từ đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tiếp tục kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông điều chỉnh Điều 9 dự thảo Nghị định như sau:

Điều 9: Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn:

2. Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn do cơ quan, tổ chức tạo lập, sử dụng riêng cho hoạt động của cơ quan tổ chức đó phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao gồm:

a) Tổ chức cá nhân sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn trong hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức tạo lập;

b) Tổ chức, cá nhân sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn trong các hoạt động chuyên ngành hoặc lĩnh vực có cùng tính chất hoạt động hoặc mục đích công việc và được liên kết với nhau thông qua điều lệ hoạt động hoặc văn bản qui định về cơ cấu tổ chức, hình thức liên kết hoạt động chung;

c) Tổ chức, cá nhân khác sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn trong giao dịch với chính cơ quan, tổ chức tạo lập chữ ký điện tử.

Theo nhandan.vn