- Chống rác thải nhựa: Cà Mau chủ động, tiên phong
- Độc đáo phần thi trình diễn thời trang từ rác tái chế
- Trường học nói không với rác thải nhựa
Khi người dân, doanh nghiệp và người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám ứng dụng KHCN để giải quyết vấn đề thực tế, đó chính là nền tảng để Cà Mau phát triển xanh, bền vững và đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn tới.
Tiến sĩ Quách Văn Ấn, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Cà Mau, khẳng định.
Ở vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đang có những con người âm thầm tạo nên các cuộc “tái sinh” xanh. Từ rác thải nhựa ven biển, rong mọc trong vuông tôm đến phụ phẩm đầu, vỏ tôm ở các nhà máy chế biến thuỷ sản… tất cả đều đang được nhìn lại bằng tư duy mới: không còn là phế thải mà trở thành tài nguyên cho kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và phát triển bền vững.
Điểm chung của những mô hình này là không chỉ góp phần giảm áp lực môi trường mà còn tạo ra sản phẩm mới, sinh kế mới và giá trị mới cho các ngành hàng chủ lực của Cà Mau.
“Đổi đời” cho rác
Sông Đốc mỗi sáng luôn nhộn nhịp ghe tàu cập bến sau những chuyến vươn khơi dài ngày. Nhưng cùng với cá tôm đầy khoang là lượng lớn bao bì ni-lông, chai nhựa, vật dụng nhựa bị thải bỏ xuống sông, biển. Những vật dụng có vòng đời sử dụng ngắn ấy lại tồn tại rất lâu ngoài môi trường.
Sinh ra và lớn lên ở đô thị biển Sông Đốc, anh Nguyễn Trung Tính (ngụ Ấp 12, xã Sông Đốc) thấu hiểu hơn ai hết áp lực rác thải nhựa đối với môi trường vùng biển quê mình. Học hết lớp 9 rồi theo gia đình làm nghề cơ khí phục vụ hậu cần nghề cá, anh chứng kiến mỗi ngày lượng lớn nhựa phế thải bị bỏ đi sau những chuyến biển.
“ Có lúc nhìn rác nổi lênh đênh ven sông, mé biển, tôi nghĩ, nếu cứ bỏ rác kiểu vầy thì sông, biển sẽ ra sao?”, anh Nguyễn Trung Tính trăn trở.
Từ suy nghĩ đó, anh mạnh dạn thuyết phục gia đình đầu tư gần 5 tỷ đồng xây dựng xưởng tái chế nhựa. Không qua đào tạo chuyên ngành, anh tự tìm tòi quy trình tái chế, tận dụng kinh nghiệm cơ khí để cải tiến nhiều thiết bị nhằm giảm chi phí vận hành.
Anh còn kết nối với người làm nghề thu gom phế liệu, các nhà máy, xí nghiệp chế biến thuỷ sản, vựa phế liệu trong và ngoài địa phương để thu mua nhựa, bao ni-lông đưa về xưởng tái chế.
Qua nhiều công đoạn phân loại, nghiền nhỏ và xử lý, những bao bì nhựa từng bị xem là đồ bỏ đi trở thành hạt nhựa nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Mỗi năm, cơ sở của anh Tính thu gom khoảng 200-300 tấn nhựa phế thải, tái chế thành hơn 100 tấn nguyên liệu nhựa để sản xuất nhiều sản phẩm như túi ni-lông, kết, rổ, khay nhựa, lưới cua... Riêng sản phẩm lưới cua, hiện xuất khẩu sang Trung Quốc bình quân 20-30 tấn/tháng.
Xưởng tái chế không chỉ mang lại nguồn thu nhập hơn 60 triệu đồng/tháng cho gia đình anh Tính mà còn tạo việc làm thường xuyên cho 13 lao động địa phương.
Cơ sở của anh Nguyễn Trung Tính mở rộng kết nối, xuất khẩu sang Trung Quốc sản phẩm lưới cua, bình quân 20-30 tấn/tháng.
Từ một xưởng tái chế nhỏ ở vùng biển Sông Đốc, mô hình của anh Nguyễn Trung Tính đang góp phần hình thành một mắt xích trong chuỗi kinh tế tuần hoàn tại địa phương. Ở đó, rác không chỉ được xử lý mà được “tái sinh” thành nguyên liệu mới, sản phẩm mới và giá trị mới cho đời sống.
Hành trình khởi nghiệp từ rác thải nhựa của anh là minh chứng cho tư duy đổi mới sáng tạo từ thực tiễn, biến nguy cơ ô nhiễm môi trường thành động lực phát triển kinh tế xanh.
Rác thải nhựa sau khi được phân loại, tái chế thành hạt nhựa sẽ tiếp tục chế biến thành nhiều sản phẩm phục vụ sản xuất và đời sống.
Đánh thức “vàng xanh” trong vuông tôm
Ở vùng đất Đầm Dơi - nơi những vuông tôm trải dài theo con nước mặn mòi, người dân quen gọi anh Lê Thanh Đăng, Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Đầm Dơi, bằng cái tên thân thuộc: “Đăng rong”.
Biệt danh ấy gắn với hành trình nhiều năm anh miệt mài tìm hướng đi mới cho nghề nuôi tôm quê nhà, bắt đầu từ một loài từng bị xem là vô dụng: rong.
Anh Lê Thanh Đăng là người khởi nguồn mô hình trồng rong trong vuông tôm.
Trước đây, rong mọc dày trong vuông tôm, luôn bị xem là “kẻ thù” của người nuôi. Người dân tìm cách vớt bỏ, thậm chí dùng thuốc tiêu diệt vì cho rằng rong làm ảnh hưởng môi trường nước và sự phát triển của tôm.
Tuy nhiên, trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Cần Thơ, anh Đăng nhận ra rong không chỉ giúp cân bằng hệ sinh thái mà còn có thể trở thành nguồn lợi kinh tế nếu được khai thác đúng cách. Ý tưởng ấy theo anh trở về quê nhà và bắt đầu bằng những thử nghiệm lặng lẽ giữa vuông tôm ở Đầm Dơi.
Từ năm 2021-2022, anh triển khai dự án nuôi tôm sú quảng canh cải tiến kết hợp rong câu chỉ vàng tại địa phương. Kết quả vượt mong đợi khi môi trường vuông nuôi ổn định hơn, chi phí xử lý nước giảm, tôm phát triển tốt và hiệu quả kinh tế tăng khoảng 20% so với mô hình truyền thống.
Điều khiến nhiều hộ dân tâm đắc với mô hình là rong sau thu hoạch có thể phơi khô bán cho thương lái, tạo thêm nguồn thu nhập giữa lúc nghề nuôi tôm nhiều biến động. Rồi từ đó, thứ từng bị xem là “cỏ hại”, rong dần trở thành “lộc trời” trong vuông tôm của nhiều hộ dân.
Anh Ngô Văn Mol, ngụ Ấp Tân Phong B, xã Đầm Dơi, cho biết: "Việc trồng rong trong vuông tôm mang lại nhiều lợi ích kép: vừa giúp lọc nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, vừa tạo nơi trú ẩn cho tôm trong mùa nắng nóng".
Mô hình trồng rong câu thái của anh Ngô Văn Mol, ấp Tân Phong B, xã Đầm Dơi.
Không dừng lại ở đó, anh Đăng tiếp tục phối hợp cùng các trường đại học, doanh nghiệp nghiên cứu, mở rộng mô hình trồng rong theo hướng cải tiến; đồng thời vận động thành lập hợp tác xã, hỗ trợ người dân bè nổi, rong giống và kỹ thuật trồng rong nhằm xây dựng chuỗi liên kết bền vững.
| Không chỉ góp phần cân bằng hệ sinh thái, loại rong này còn mang lại giá trị thương phẩm đáng kể. Rong phơi khô hiện đang được HTX Dịch vụ nông nghiệp rong biển Đầm Dơi, kết hợp với công ty thu mua với giá từ 7.000-8.000 đồng/kg/rong khô, mở ra thêm sinh kế cho người dân vùng nuôi trồng thuỷ sản Cà Mau. |
Phía sau những bè rong xanh đang phủ dần các vuông tôm là hình ảnh người cán bộ lặng lẽ bắt đầu từ những điều nhỏ bé để mở ra hướng đi thuận tự nhiên hơn cho nghề nuôi tôm Cà Mau. Để rồi từ loài rong từng bị xem là vô giá trị, nay đã trở thành “vàng xanh” trong vuông tôm, đầm tôm công nghệ cao, góp phần tạo nên những vuông tôm xanh hơn, sạch hơn và mở thêm sinh kế cho người dân Cà Mau.
Khi đầu và vỏ tôm mở ra kinh tế tuần hoàn
Nếu rong biển là món quà từ tự nhiên, thì phụ phẩm thuỷ sản lại là “bài toán” do chính con người tạo ra trong quá trình phát triển ngành chế biến thuỷ sản.
Tại các nhà máy chế biến thuỷ sản ở Cà Mau, mỗi ngày hàng tấn đầu tôm, vỏ tôm được tách ra từ dây chuyền sản xuất. Trước đây, chúng bị xem là phế phẩm gây áp lực cho môi trường. Nhưng nay, những phụ phẩm ấy đang mở ra hướng đi mới cho kinh tế tuần hoàn trong ngành thuỷ sản.
Từ năm 2019, Công ty Cổ phần Việt Nam Food, tại Khu công nghiệp Hoà Trung, Xã Lương Thế Trân, là một trong những doanh nghiệp tiên phong thực hiện quy trình chế biến sâu phụ phẩm tôm.
Từ đầu và vỏ tôm, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ để chiết xuất chitin - nguyên liệu quan trọng sản xuất chitosan. Chitosan sau đó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp (phân hữu cơ cho cây trồng), công nghiệp (dịch thuỷ phân xử lý môi trường nước) và cả y dược (Gelatin làm vỏ nhộng ong).
Ông Quản Hồng Thìn, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Việt Nam Food (bìa phải), kiểm tra xưởng đầu vào sơ chế đầu tôm tại công ty.
Ông Quản Hồng Thìn, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Việt Nam Food, cho biết, đầu và vỏ tôm thường chiếm khoảng 45% trọng lượng tôm nguyên liệu. Mỗi năm, công ty thu gom khoảng 30.000-40.000 tấn phụ phẩm vỏ tôm trong và ngoài tỉnh để chế biến thành các sản phẩm hữu cơ phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản và đời sống.
Việc tận dụng phụ phẩm không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí xử lý chất thải mà còn tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn, đồng thời góp phần giảm áp lực môi trường cho ngành chế biến thuỷ sản.
Với ý tưởng kinh doanh mang tính nhân văn, góp phần bảo vệ môi trường, các dự án chế biến, chiết xuất đầu và vỏ tôm của Công ty Cổ phần Việt Nam Food đã đạt nhiều giải thưởng, chứng nhận uy tín trong nước và quốc tế.
| Tiêu biểu như Giải thưởng châu Âu ở hạng mục “Tương lai dinh dưỡng” dành cho mô hình tạo ra giá trị từ phụ phẩm tôm; chứng nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp khu vực năm 2024 do Cục Công Thương địa phương trao tặng cho bộ sản phẩm protein thuỷ phân, dịch mực thuỷ phân, bột tôm thuỷ phân và Astaxanthin… |
Một trong số sản phẩm chiết xuất từ đầu, vỏ tôm thành sản phẩm thức ăn cho thú cưng và nuôi trồng thuỷ sản tại Công ty Cổ phần Việt Nam Food.
Những kết quả này cho thấy hướng đi đổi mới sáng tạo gắn với công nghệ chế biến sâu đang mở ra nhiều giá trị mới cho ngành thuỷ sản, không chỉ nâng cao giá trị phụ phẩm mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững tại địa phương.
Điểm đáng quý là các mô hình này xuất phát từ nhu cầu rất thực tế: xử lý rác thải, tận dụng phụ phẩm, giảm chi phí, tạo sản phẩm mới, tăng thu nhập và bảo vệ môi trường. Đây chính là tinh thần của kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo mà Cà Mau đang hướng tới.
Theo Tiến sĩ Quách Văn Ấn, Phó Giám đốc Sở KH&CN, vai trò của ngành KH&CN là phát hiện, hỗ trợ, chuẩn hoá và nhân rộng những mô hình hiệu quả. Với các mô hình có tiềm năng, cần tiếp tục hỗ trợ kiểm nghiệm chất lượng, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, bảo hộ nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cũng như tiếp cận các chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ, khởi nghiệp ĐMST và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Khi cách nhìn thay đổi, kinh tế tuần hoàn không còn là khái niệm xa vời, mà đang hiện hữu trong từng nhà máy, từng mô hình sản xuất ở Cà Mau. Ở đó, KHCN không chỉ bắt đầu từ những phòng thí nghiệm lớn, mà bắt đầu từ những điều rất đời thường: làm sao để rác thải trở nên hữu ích hơn, phụ phẩm được tận dụng hiệu quả hơn, sản xuất sạch hơn, bán hàng tốt hơn, môi trường ít bị tổn thương hơn..., nhưng mang giá trị lớn, góp sức phát triển xanh cho vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc.
Trọng Nhân
Nguồn: https://baocamau.vn/nhung-cuoc-tai-sinh-xanh-a129068.html











Bình luận (0)