Sau khi sáp nhập với các địa phương vùng duyên hải với Tây Nguyên không đơn thuần chỉ là vấn đề tổ chức bộ máy hành chính, mà còn liên quan đến tái cấu trúc không gian phát triển. Việc điều phối nguồn lực, bảo đảm phát triển bền vững của địa phương cần gắn với mục tiêu phát huy năng lực nội sinh, ngoại sinh của nguồn lực một cách bền vững, là bước ngoặt phát triển mới, đòi hỏi những nguồn lực mới và cách tiếp cận mới để thúc đẩy sự phát triển các địa phương trong khu vực.
Tỉnh Lâm Đồng mới có nhiều dư địa và tiềm năng phát triển rất lớn, như: cửa khẩu quốc tế với Campuchia; sở hữu địa hình đa dạng, trải dài từ cao nguyên với đất đỏ bazan phì nhiêu, khí hậu ôn hòa; đến vùng duyên hải, với bờ biển dài 192 km và ngư trường rộng hơn 52.000 km2... Sự đa dạng này tạo điều kiện phát triển nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái và kinh tế biển.
Vị trí địa lý của tỉnh Lâm Đồng mới là cầu nối quan trọng giữa khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, tạo hành lang kinh tế xuyên vùng... mở ra cơ hội lớn để bứt phá, tăng trưởng trong các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế xanh - tuần hoàn, kinh tế số, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch chất lượng, năng lượng tái tạo, dịch vụ logistics… kéo theo nhu cầu cấp bách về nguồn nhân lực có kỹ năng, đặt ra những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực và các cơ sở đào tạo.
Xác định được nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, tỉnh cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với giáo dục và đào tạo như: đào tạo nghề theo ngành và lĩnh vực ưu tiên; liên kết với doanh nghiệp tạo hệ sinh thái sáng tạo địa phương; xây dựng chuẩn đầu ra đối với từng ngành nghề; ứng dụng chuyển đổi số với nguồn học liệu số… Đặc biệt, với địa bàn có đến 49 dân tộc, thì công tác phát triển nguồn lực người dân tộc và vùng dân tộc thiểu số cũng cần chú trọng, với nhiều mô hình gắn kỹ năng nghề với kỹ năng sống và sinh kế…
Đặc biệt hơn, theo TS Nguyễn Duy Thụy - Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, nguồn lực phát triển địa phương không đơn thuần dựa trên các giá trị nội tại các yếu tố liên quan đến con người, mà còn có sự chi phối của các yếu tố ngoại sinh, hay còn gọi là nguồn lực ngoại sinh như: khoa học và công nghệ, thị trường, chính sách vĩ mô... tạo thành “nguồn lực nhân văn” - liên quan tới giá trị sống của con người bao gồm: tư tưởng, quan điểm, tình cảm, trí tuệ, vẻ đẹp, sức mạnh, phẩm giá...
Nguồn lực nhân văn còn được coi là tiềm năng, là điều kiện cần để phát huy thành động lực cho phát triển xã hội với tư cách là chủ thể của xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước; có thể thay đổi và có sự khác biệt giữa các địa phương, các khu vực, thậm chí là khác biệt giữa các khoảng thời gian nhất định. Chính vì vậy, trong bối cảnh mới, mục tiêu mới cũng đặt ra yêu cầu mới trong nhận diện và phát huy nguồn lực nhân văn trên tất cả các lĩnh vực phát triển.
Do đó, sử dụng nguồn lực trong tình hình mới, cần thực hiện công tác rà soát, đánh giá tính phù hợp, khả thi và hiệu quả của những yếu tố được xác định là nguồn lực nhân văn trước đó đối với nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài. Với những giá trị truyền thống kết hợp yếu tố hiện đại, hầu hết các nguồn lực nhân văn đều thể hiện giá trị và khả năng khai thác, phát huy trên các lĩnh vực kinh tế - giáo dục - văn hóa - nghệ thuật - tôn giáo - thể chế - quy hoạch phát triển.
TS Nguyễn Duy Thụy đề xuất, phát triển nguồn nhân lực ở các tỉnh có khu vực Tây Nguyên cần dựa trên các giá trị và nguồn lực nhân văn. Trước hết là xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao mà tiêu biểu là đội ngũ trí thức, đặc biệt là đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội rất cấp bách của các địa phương, góp phần lan truyền nguồn lực nhân văn trong cộng đồng…
Nguồn: https://baolamdong.vn/phat-huy-gia-tri-nguon-luc-nhan-van-cho-su-phat-trien-moi-406191.html






Bình luận (0)