
Khối diễu hành Ngành Văn hóa, Thể thao tại Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2.9. Ảnh: Xuân Trường/ Bộ VHTTDL
Từ “đầu tư cho văn hóa” đến “kinh tế văn hóa”
Chúng ta đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết 80 là một lời khẳng định mạnh mẽ rằng, Việt Nam sẽ phát triển bằng nội lực văn hóa và chất lượng con người, chứ không chỉ bằng tốc độ tăng trưởng.
Một điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết 80 là cách nhìn về nguồn lực. Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm: đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tương lai dân tộc, đồng thời yêu cầu đổi mới căn bản tư duy huy động nguồn lực, trong đó Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, xã hội là nguồn lực quan trọng. Đây là một thông điệp đúng và trúng, bởi nhiều năm qua, điểm yếu của lĩnh vực văn hóa không chỉ là thiếu tiền, mà còn là thiếu cơ chế để biến tiền thành giá trị, thiếu tư duy để biến nguồn lực xã hội thành “sức mạnh văn hóa”.
Muốn hiểu đúng tinh thần này, cần thoát khỏi cách nghĩ cũ rằng văn hóa là “chi tiêu”. Văn hóa không phải là “khoản tiêu” giống như chi phí hành chính. Văn hóa là khoản đầu tư dài hạn vào năng lực con người và thương hiệu quốc gia. Khi một quốc gia đầu tư vào giáo dục thẩm mỹ, vào sáng tạo nghệ thuật, vào hệ sinh thái sản phẩm có bản quyền, quốc gia đó không chỉ tạo ra giá trị tinh thần, mà còn tạo ra việc làm, doanh thu, du lịch, xuất khẩu, và cả vị thế quốc tế.
Chúng ta thấy điều này rất rõ qua những ví dụ cụ thể trong đời sống gần đây. Sự bùng nổ của các chương trình nghệ thuật đại chúng, các concert quy mô lớn, các chuỗi sự kiện văn hóa - âm nhạc thu hút hàng chục nghìn khán giả không chỉ là biểu hiện của thị hiếu, mà còn là dấu hiệu của một “thị trường văn hóa đang hình thành”. Những không gian như phố đi bộ, các tổ hợp sáng tạo, lễ hội nghệ thuật đường phố, các sản phẩm thiết kế trẻ… đã tạo ra một lớp người tiêu dùng văn hóa mới, là tiền đề để công nghiệp văn hóa phát triển.
Tuy nhiên, nếu chỉ có sự bùng nổ tự phát thì chưa đủ. Công nghiệp văn hóa cần một “bàn tay kiến tạo” để thị trường vận hành lành mạnh, để sáng tạo được bảo vệ, để doanh nghiệp và nghệ sĩ không bị đơn độc. Đây là lúc quan điểm Nhà nước dẫn dắt trở nên then chốt. Nhà nước không làm thay sáng tạo, nhưng phải làm ba việc: Thiết kế luật chơi, tạo hạ tầng, và mở đường cho dòng vốn.
Từ thực tiễn Việt Nam, điều cần thay đổi mạnh mẽ nhất là chuyển từ đầu tư theo kiểu “xây công trình” sang đầu tư theo kiểu “xây hệ sinh thái”. Một nhà hát không thể chỉ là một tòa nhà. Một bảo tàng không thể chỉ là nơi trưng bày. Một trung tâm triển lãm không thể chỉ là điểm check-in. Đầu tư văn hóa phải đi kèm mô hình vận hành chuyên nghiệp, gắn với công nghệ số, gắn với giáo dục công chúng, gắn với truyền thông hiện đại và thị trường.
Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết đặt mục tiêu hình thành các khu - cụm sáng tạo tầm cỡ quốc tế, ứng dụng công nghệ cao, mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Văn hóa ngày nay không chỉ tồn tại trong nhà hát, bảo tàng hay sách vở, mà tồn tại trong các nền tảng số, trong thiết kế, thời trang, game, quảng cáo, công nghệ trải nghiệm… Một nền văn hóa mạnh là nền văn hóa có khả năng tái sản xuất giá trị trong môi trường công nghệ, có khả năng kể câu chuyện của mình bằng ngôn ngữ toàn cầu.
Để văn hóa Việt Nam vươn ra thế giới
Nghị quyết 80 đặt ra những mục tiêu đầy khát vọng: Hình thành các tập đoàn công nghiệp văn hóa, xây dựng khu - cụm sáng tạo tầm cỡ quốc tế, phấn đấu đến năm 2030 công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và hình thành nhiều thương hiệu quốc gia ở các lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang… Mục tiêu ấy không viển vông. Nhiều quốc gia đã làm được và thậm chí lấy văn hóa làm ngành xuất khẩu mũi nhọn. Vấn đề là: Việt Nam sẽ đi tới đích bằng con đường nào?
Muốn đạt mục tiêu ấy, điều quan trọng nhất là phải “mở khóa” điểm nghẽn lớn nhất: Tư duy quản lý và cơ chế thực thi. Nghị quyết đã chỉ rõ yêu cầu đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ, gắn công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa với xây dựng thương hiệu sản phẩm văn hóa quốc gia và du lịch văn hóa. Đây chính là linh hồn cải cách của nghị quyết.
Chúng ta phải dũng cảm nhìn lại: Một thời gian dài, văn hóa thường bị quản trị theo lối “quản lý - kiểm soát” nhiều hơn là “kiến tạo - đồng hành”. Cách làm ấy có thể tạo ra sự an toàn nhất định, nhưng trong thời đại cạnh tranh sáng tạo, nó lại khiến không gian sáng tạo bị co hẹp. Mà sáng tạo thì không thể phát triển trong không gian chật hẹp. Sáng tạo cần quyền thử nghiệm. Cần cơ chế linh hoạt. Cần chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Và cần tin tưởng vào đội ngũ nghệ sĩ, doanh nghiệp, những người làm nội dung.
Từ thực tiễn của nhiều quốc gia, điều tạo nên đột phá của công nghiệp văn hóa không phải là khẩu hiệu, mà là chuỗi giá trị được tổ chức một cách chuyên nghiệp: Từ đào tạo - sản xuất - phân phối - truyền thông - xuất khẩu - bảo vệ bản quyền. Ở Việt Nam, chuỗi này vẫn còn nhiều mắt xích yếu, đặc biệt là khâu phân phối và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Một tác phẩm điện ảnh hay, một bản nhạc tốt, một thiết kế sáng tạo… có thể bị sao chép, bị khai thác trái phép, khiến người sáng tạo mất động lực. Không giải quyết được vấn đề bản quyền, thì nói đến tập đoàn công nghiệp văn hóa vẫn chỉ là giấc mơ.
Trong bối cảnh hướng tới Đại hội XIV, đổi mới quản trị văn hóa cũng là đổi mới quản trị quốc gia ở một lát cắt rất quan trọng. Bởi văn hóa liên quan trực tiếp tới nhân cách xã hội, tới kỷ cương, tới lối sống, tới năng lực chống lại các biểu hiện xuống cấp, lệch chuẩn. Nghị quyết 80, theo tôi, không chỉ nhằm phát triển nghệ thuật, di sản hay lễ hội. Nghị quyết hướng tới xây dựng một nền văn hóa có khả năng “tự điều chỉnh xã hội”, tạo ra những công dân có trách nhiệm, những doanh nghiệp có văn hóa, những cộng đồng có bản lĩnh.
Và cuối cùng, khi nói đến vươn ra thế giới, không thể chỉ xuất khẩu sản phẩm, mà phải xuất khẩu cả câu chuyện. Việt Nam có một kho tàng văn hóa đủ để kể cho thế giới nghe. Nhưng muốn kể hay, phải có năng lực kể chuyện hiện đại, có ngôn ngữ sáng tạo toàn cầu. Điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, du lịch trải nghiệm… chính là những “người kể chuyện mới” của dân tộc trong kỷ nguyên số.
Nghị quyết 80, vì thế, có thể coi là một “mốc mở đường” cho chặng phát triển mới của đất nước. Nó đặt văn hóa vào trung tâm không phải để làm đẹp thêm cho chiến lược phát triển, mà để tạo ra một nền phát triển có bản lĩnh, có chiều sâu, có sức bền. Và trong không khí hướng tới Đại hội XIV, Nghị quyết như một lời nhắc nhở mạnh mẽ: Tương lai của Việt Nam không chỉ được quyết định bởi những con số tăng trưởng, mà còn được quyết định bởi chiều sâu văn hóa và tầm vóc con người Việt Nam.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Nguồn: https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/suc-manh-van-hoa-trong-ky-nguyen-moi-1641505.ldo






Bình luận (0)