- Chiếc xe ô tô đỗ xuống ngã ba, Lanh xuống xe, theo sau cô, Mạnh cũng xách theo túi đồ bước xuống. Từ ngã ba này về làng của Lanh phải đ i thêm gần hai chục cây số nữa. Khi xe khách vừa đỗ đám xe ôm túa đến mời chào:
- Về đâu em ơi? Anh lấy rẻ thôi!
Mạnh không nói gì vì anh mới đến lần đầu nên không biết. Lanh nhìn quanh, cô trả lời:
- Em về Nà Pất, em không đi xe ôm, em tìm xe taxi thôi!
Cánh xe ôm tiu nghỉu lảng ra, một anh nói bâng quơ:
- Khách VIP không đi xe ôm đâu! Váy áo thế kia sao đi xe ôm!
Lúc này các anh lái xe ôm mới bắt đầu quan sát hai người khách. Chàng trai thì mặc áo phông có dòng chữ tiếng Anh, quần bò suông, mái tóc uốn nhuộm bồng bềnh vai đeo một chiếc balo nhỏ, một tay xách túi đồ. Còn cô gái mặc áo phông khá rộng và cái váy ngắn màu trắng, váy dài còn chưa đến đầu gối, giày thể thao, chiếc kính râm cài trên mái tóc uốn nhẹ nhàng buông lơi, cô rất biết cách trang điểm, không quá đậm nhưng cũng không quá nhợt nhạt, mùi nước hoa thoang thoảng. Vai đeo chiếc xắc nhỏ và cầm theo một túi đồ.
Một anh lái xe ôm gọi với một anh taxi gần đó:
- Hiệp! có khách kìa!
Anh tên Hiệp hớt hải chạy ra vồn vã:
- Em về đâu? Lên xe đi! Xe ở đằng kia! Có đồ gì nhiều để anh xách!
Thoáng chốc chiếc xe taxi màu trắng đã lăn bánh theo hướng về Nà Pất. Trên xe anh tài xế niềm nở hỏi chuyện:
- Các em ở đâu về Nà Pất vậy?
Lanh mau miệng trả lời:
- Chúng em từ Hà Nội lên anh ạ!
- Các em đến thăm họ hàng à?
- Không! Em về nhà ạ!
- Nhà em ở Nà Pất ấy à? - anh tài xế hỏi với vẻ ngạc nhiên.
- Vâng! Sao vậy anh? - Lanh thoáng chút ngại ngùng.
Anh tài xế có chút bối rối nhưng cũng rất nhanh trí anh trả lời chống chế:
- Nhìn em anh đoán em là người Hà Nội chứ ai nghĩ em là người Nà Pất. Chắc em ở Hà Nội lâu rồi phải không?
- Vâng ạ! Em ở dưới đó cũng hơn bẩy năm rồi ạ!
- Em làm gì dưới đó?
- Học đại học xong, ra trường rồi em làm luôn ở Hà Nội. Em làm maketing anh ạ!
- Thế bạn đi cùng là…- anh tài xế sợ lỡ lời nên hỏi ngập ngừng.
- Đây là bạn trai của em ạ!
- Vậy hả! thế bạn trai em quê ở đâu vậy?
- Anh ấy người Hà Nội ạ!
- Ôi! Tốt quá!
Anh tài xế lại vui vẻ nói với Mạnh:
- Em thấy con gái Lạng Sơn giỏi không? Vừa xinh vừa giỏi, xuống Hà Nội “bắt chồng” được ngay một anh đẹp trai…
Cả ba người cùng cười vui vẻ. Gặp anh tài mau miệng nói cười suốt làm cho quãng đường vắng vẻ quanh co trở nên gần hơn. Càng xa thành phố quang cảnh càng vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt, hai bên đường là những đồi cây, có những đoạn đường đi dưới rừng thông râm mát, có những đoạn đường cua gấp khuỷu tay làm Lanh và Mạnh nghiêng ngả, có đoạn đường thì lên dốc, xuống dốc, có đoạn đường lên đến đỉnh đồi nhìn xuống thung sâu hun hút. Mạnh nhìn ra ngoài cửa kính xe cảm thán:
- Cảnh yên bình quá! nhưng cho em lái đường này em chịu!
Anh tài cười và nói:
- Các anh lái quen đường rừng rồi, có đoạn còn khó hơn thế này nhiều, nếu về Hà Nội anh cũng chịu, đường sá chằng chịt không lái nổi.
Xe cũng về đến đầu làng, Lanh nhắc anh tài dừng xe vì từ đoạn đường đó không vào được đến nhà cô bởi đoạn đường ngõ nhỏ. Cô trả tiền xe rồi cả hai xách đồ về nhà.
Làng của Lanh được bao quanh là rừng cây, màu xanh của cây cối, xanh của các mảnh ruộng nhỏ len lỏi giữa các khe đồi. Một con suối nhỏ nước trong xanh, hai bên bờ xanh mướt cỏ và từng bụi cây lúp xúp. Một đàn vịt khá đông, con thì ung dung bơi men suối, con thì đứng trên bờ rỉa lông, có con thì ngụp lặn một hồi rồi ngoi lên khỏi mặt nước kêu với vẻ thích thú. Cả làng có khoảng hai mươi mái nhà nằm thành từng bậc men các sườn đồi, tiếng chó sủa xa xa càng gợi lên cảnh yên tĩnh. Không khí trong lành, ở đây tưởng chừng như không có bụi đường, không có khói xe và tiếng ồn ào, náo nhiệt như Hà Nội. Đường vào ngõ cũng không quá xa, hai bên lối đi được rào bằng cây vầu cho gà không vào bới vườn vườn rau, có đoạn trồng chuối, có đoạn trồng mận, trồng đào… Mạnh nhìn thấy gì cũng hỏi: đây là cây gì? Cái gì đây? Sao chuồng trâu lại làm ngay đường thế này? Mùi ghê quá!...
Rồi cả hai cũng đã lên đoạn dốc ngắn để lên nhà Lanh, vừa đến đầu sân Lanh vội gọi to:
- Mẹ ơi! Con về rồi đây!
Từ trong nhà một người phụ nữ mặc áo Nùng màu xanh, tóc cặp gấp gọn gàng, hớt hải chạy ra reo lên:
- Lục ma dà lo? Bố mưn ới! Lục sáo ma dà! ( Con về rồi đấy à? Bố nó ơi! Con gái về rồi!)
Lanh cũng vui mừng nhưng chợt thấy sượng sùng vì Mạnh hỏi:
- Mẹ em à? Nói gì đấy em?
Lanh ái ngại quay ra nói nhỏ với Mạnh:
- Mẹ chào, mẹ báo tin cho bố biết mình về rồi.
Mạnh như hiểu ra, cũng là lúc anh bước đến bậc cửa gỗ, thêm một người đàn ông nữa không mặc áo dân tộc từ trong nhà bước ra tới cửa, anh đoán là bố Lanh, anh cúi chào:
- Cháu chào cô chú ạ!
- Ừ! Vào nhà đi cháu!
Bố mẹ Lanh vội vàng, người thì đi pha nước, người thì bật cái quạt cây cho mát. Mẹ Lanh lại nói một tràng tiếng Nùng, bố Lanh và Lanh cũng đối đáp bằng tiếng Nùng. Mạnh ngồi ngây ra thấy trở nên lạc lõng, anh không tiện hỏi Lanh mọi người vừa nói chuyện gì, anh quan sát ngôi nhà. Ngôi nhà được xây bằng gạch đất thô, mạch vữa cũng bằng đất, các viên gạch to gấp nhiều lần viên gạch chỉ ở miền xuôi, các khuôn cửa và cánh được làm bằng gỗ rất đơn sơ. Nhà lợp bằng ngói máng được nhuộm màu xám của thời gian. Giữa nhà là cái tủ chè đã cũ, nóc tủ cũng là bàn thờ tổ tiên. Ngay bàn tiếp khách dán rất nhiều giấy khen của Lanh, nhiều tờ đã ố vàng, một vài tờ lịch cũ và bức ảnh cưới của chị gái Lanh. Trên tường ngay chỗ bàn thờ dán bức tranh mâm ngũ quả và hai câu đối hai bên. Mạnh lấy làm lạ là ngay cửa vào nhà đã dán ba lá cờ bằng giấy, kích thước nhỉnh hơn bàn tay, giờ nhìn lên bàn thờ cũng thấy dán cờ. Ở Hà Nội người ta thường treo những lá cờ nhỏ thành dây trang trí đường phố, ở đây lại dán trang trí nhà cửa. Mạnh đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ, ô kìa! Cửa bếp cũng có, cửa chuồng gà cũng dán cờ đỏ, Mạnh hơi hoang mang, người ta bảo người dân tộc hay có bùa, liệu đó có phải…
Sau cuộc trao đổi bằng tiếng dân tộc Mạnh quan sát thấy mẹ Lanh mất đi vẻ vồn vã như ban đầu. Xóa tan bầu không khí lạc lõng của Mạnh, khi ấy bố Lanh hỏi han bằng tiếng Kinh. Mẹ Lanh cũng hỏi thăm vài câu bằng tiếng Kinh nhưng giọng đặc sệt tiếng dân tộc, có câu nói không sõi. Hỏi thăm được vài câu mẹ xuống bếp làm cơm, Lanh cũng thay bằng cái áo ba lỗ và cái quần sooc xuống bếp hộ mẹ. Trong khi ấy Mạnh ngồi nói chuyện với bố Lanh, hai người nói đủ mọi chuyện, nhưng chủ yếu là bố Lanh hỏi từ chuyện về công việc của anh, về gia đình anh. Mạnh trả lời dè dặt, anh vẫn băn khoăn về những lá cờ nho nhỏ bằng giấy dán trên bàn thờ và các cửa ra vào.
Vào đến bữa cơm, cái chiếu được trải ra giữa nhà, mâm cơm đã bày ngay ngắn các đĩa, các bát thức ăn. Mẹ Lanh vui vẻ nói với Mạnh:
- Cháu về chơi nhà có gì ăn nấy, nôông thôn (nông thôn) chỉ có thịt ngà (thịt gà) hôm nay cán (quán) thịt ở gần Ỷ ban (Ủy ban) có bán thịt cay (thịt quay) , chứ có hôm cúng (cũng) chẳng có, ở đây không có nhiều đặc sản như ở Hà nội đâu né, cháu cứ tự nhiên như ở nhà.
Mạnh vừa ngạc nhiên vừa háo hức nhìn vào mâm cơm, anh hỏi:
- Ôi! Toàn đặc sản. Món thịt ngà và thịt cay chế biến như nào ạ? Món này cháu chưa được ăn.
Lanh vội chỉ vào các đĩa thức ăn giải thích:
- Đây là thịt gà luộc, thịt gà chạy bộ đấy anh! Còn đây là thịt lợn quay, sườn lợn, rau dớn xào…
Mạnh thắc mắc hỏi lại:
- Ở đây gọi con gà chạy bộ là con ngà à em?
Bố Lanh thì cười vang, Lanh cười cười bảo với Mạnh:
- Vẫn gọi là con gà, nhưng mẹ em nói tiếng Nùng quen rồi, nói tiếng Kinh không nói sõi một số tiếng.
Mẹ Lanh cũng cười chữa ngượng, rồi cả nhà ăn cơm vui vẻ.
Sau khi ăn cơm xong Mạnh theo Lanh xuống bếp rửa bát dọn dẹp, Mạnh hỏi Lanh:
- Ban nãy lúc mới về bố mẹ và em nói chuyện gì giấu anh à mà nói bằng tiếng Nùng?
Lanh ngớ người ra, ngẫm nghĩ một chút cô nói:
- Có gì đâu, mẹ em quen nói tiếng Nùng, nãy quen miệng cũng hỏi thăm anh bằng tiếng Nùng, em với bố bảo mẹ là cả nhà phải nói bằng tiếng Kinh. Mẹ em từ trước đến giờ chẳng đi đâu xa, chỉ quanh lũy tre làng nên nói chuyện với gia đình và hàng xóm chủ yếu bằng tiếng Nùng thôi, ít khi nói bằng tiếng Kinh lắm.
Điều băn khoăn, thắc mắc của Mạnh từ khi đến nhà giờ Mạnh mới hỏi Lanh:
- Mà sao nhà em lại dán những lá cờ lên các cửa vậy, trên cả bàn thờ nữa?
- Những lá cờ ấy dán hồi trước tết, phong tục từ xưa đã thế.
- Phong tục ấy có nghĩa là gì?
- Mẹ em bảo từ thời ông bà đã làm vậy, để năm mới may mắn, xua đuổi ma quỷ.
Mạnh lấy làm ngạc nhiên:
- Ở đây có ma à? Anh thấy người ta nói trên rừng có ma gà.
- Làm gì có ma, đấy là truyện cổ ngày xưa có nhiều ma quỷ đến quấy nhiễu con người, nhất là dịp Tết, ma quỷ sợ màu đỏ, sợ tỏi, sợ pháo, sợ hoa đào, giờ không đốt pháo nữa nhưng quê em vẫn cắm hoa đào và dán giấy đỏ vào dịp Tết theo phong tục là tránh ma quỷ quấy nhiễu.
- À! Thế mà anh cứ tưởng …
Lanh cười trả lời:
- Anh tưởng bùa chứ gì? Nếu là bùa thì Hà Nội chăng nhiều như thế thì em phải dính bùa trước mới phải chứ! Dính bùa của anh đấy!
- Thế không phải em “bắt chồng” à?
Cả hai cùng cười. Dọn dẹp xong cả hai cùng lên nhà nói chuyện với bố mẹ Lanh. Lần này Lanh đưa Mạnh về vừa là ra mắt bố mẹ cũng là để Mạnh chuyển lời của gia đình Mạnh chuẩn bị lên nhà Lanh làm lễ dạm ngõ. Bố mẹ Lanh hỏi Mạnh xem thủ tục bên nhà trai thế nào để nhà gái biết lo liệu sao cho hài hòa, đẹp mặt cả hai bên. Thấy vậy Lanh vội lên tiếng:
- Theo con nhà mình nên tổ chức tại nhà hàng ngoài thành phố. Ở Hà Nội và dưới xuôi vẫn tổ chức ngoài nhà hàng có ma két, bàn ghế lịch sự và trang hoàng đẹp lắm. Nhà trai lên vừa tiện xe cộ đi lại.
Bố mẹ Lanh hơi ngạc nhiên về quyết định của con gái, từ trước đến nay ở thôn Nà Pất này nhà nào cũng tổ chức cưới hỏi cho con cháu ở nhà, có phải không có nhà cửa đâu mà mang ra nhà hàng. Nhưng Lanh đã bảo ở Hà Nội vẫn tổ chức cưới hỏi ở nhà hàng làm bố mẹ Lanh phân vân, hai ông bà vẫn e ngại họ hàng làng xóm đánh giá. Dạm ngõ đã ở nhà hàng rồi thì khi cưới có tổ chức ở nhà hàng không? Lại còn tiền nong nữa. Cưới hỏi ở trong làng vừa có nhiều anh em họ hàng tham dự, vừa có tình làng nghĩa xóm giúp đỡ nhau khi có việc lớn, cùng nhau thịt gà, thịt lợn nấu cỗ, quay lợn… Ông bà có hai đứa con gái, khi chị gái Lanh lấy chồng tổ chức ăn uống, ca hát hai ba hôm rộn ràng cả làng. Lanh là con út được bố mẹ đầu tư cho đi học trường Nội trú tỉnh, rồi học đại học, làm ở thủ đô, giờ cũng lấy chồng thủ đô. Ông bà cũng muốn mát mặt với xóm làng, cả xã chẳng đứa nào được như nó, chẳng nhà nào tự hào như ông bà. Bao năm vất vả nuôi nó ăn học đến giờ còn chưa xây lại được căn nhà tử tế giống với nhà của người Kinh. Ấy thế mà bây giờ nó đòi cưới ở thành phố thì phải làm sao?
Hiểu được bố mẹ đang lo lắng về tiền Lanh vội trấn an:
- Về tiền thuê địa điểm và đặt cơm ngoài nhà hàng con lo hết, con dự tính nhà mình không mời nhiều, chỉ cần đại diện mấy người nhà gái, nhờ ai làm cán bộ biết nói chuyện lịch sự để nhà trai khỏi cười chê. Bên nhà trai bảo cũng chỉ những người đại diện lên khoảng một mâm thôi.
Nghe thấy Lanh nói vậy bố mẹ cô cũng không phàn nàn gì, cũng đành thở dài đồng ý. Cả xã này chẳng có cô gái nào ra ngoài xã hội hiểu biết sâu rộng như Lanh, cô lại có kế hoạch sắp xếp hết rồi, vả lại Lanh đã nói làm sao cho nhà trai khỏi chê cười, khinh rẻ Lanh và gia đình nhà gái, thôi thì cứ theo ý Lanh mà tiến hành.
Tối hôm đó Mạnh gọi điện về nhà cho hai bên gia đình nhìn thấy nhau, nói chuyện với nhau qua Zalo. Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa hai bên gia đình cũng đi đến thống nhất nhanh chóng bởi hai bên đều mong muốn đôi trẻ tổ chức vừa thuận lợi vừa hiện đại, văn minh.
Buổi tối hai mẹ con ngủ cùng nhau, con gái sắp lấy chồng rồi chỉ được ngủ với mẹ một vài lần nữa thôi. Hai mẹ con nói chuyện về ngày dạm ngõ của Lanh, chuyện ngày xưa khi mẹ còn trẻ trước khi lấy bố Lanh. Mẹ kể ngày ấy đã rất ít người còn biết dệt vải, nhuộm chàm rồi nhưng bà ngoại đã dạy mẹ biết làm hết các công đoạn. Để chuẩn bị cho ngày cưới mẹ tự dệt vải từ sợi của cây lanh để ra từng tấm vải sợi lanh màu trắng, rồi sau đó được nhuộm màu bằng cây chàm. Công đoạn nhuộm chàm hết sức kì công: lá chàm ngâm, rồi vắt lấy nước, rồi quấy cùng vôi chờ lắng lấy tinh bột, rồi lấy lá cây sau sau hơ lửa vo với bột chàm hòa vào chum nước chắt ra từ nước tro bếp mới tạo ra màu lam đậm óng ánh. Qua nhiều lần ngâm vải, rồi phơi, tùy theo tỉ lệ các nguyên liệu để ra màu chàm xanh, chàm hồng. Nhưng kì công nhất là nhuộm chiếc khăn đội đầu, qua nhiều lần ngâm rồi phơi mà nhuộm được chiếc khăn có chấm trắng thì mới khẳng định được là cô gái có tay nghề cao. Mẹ cắt và khâu áo Nùng cũng đẹp có tiếng, may áo khó nhất là kết những cái khuy và khâu vào áo bằng chỉ màu sao cho mũi khâu thật đều, thật bóng. Mẹ là cô gái khéo léo trong vùng, các cô gái cả làng trên bản dưới đều ngưỡng mộ tay nghề dệt, nhuộm chàm và cắt may áo của mẹ. Mẹ yêu cây lanh, mẹ yêu cây chàm nên đặt tên con gái yêu là Lanh với niềm tự hào và kì vọng. Mẹ bảo con gái thời nay không còn ai biết dệt vải, nhuộm chàm, áo hầu hết may bằng vải công nghiệp may sẵn bán ở chợ. Lanh lại là cô gái học giỏi đã thoát ly thì càng không biết làm nghề truyền thống ấy. Dù vậy mẹ đã chuẩn bị cho Lanh một bộ thật đẹp cho ngày cưới, Lanh lấy chồng người Kinh, nếu ngày cưới cô mặc váy như cô dâu người Kinh thì cô hãy mặc bộ áo chàm mẹ may trong ngày dạm ngõ để nhớ về truyền thống của Dân tộc Nùng.
Lanh thì suy nghĩ khác, cô cho rằng cô đã hòa nhập với cuộc sống của thành thị, nhà chồng cô là người Kinh, là người thủ đô, lễ dạm ngõ tổ chức ở nhà hàng thì mặc áo Nùng không hợp. Cô và Mạnh đã bàn với nhau rồi, hôm ấy cả hai sẽ mặc áo dài trắng còn ngày cưới sẽ mặc váy cô dâu, com lê và cùng mặc áo dài đỏ để lưu lại dấu ấn của ngày đại hỉ. Mẹ Lanh nói như nài nỉ:
- Đã không cưới hỏi ở làng rồi thì cũng mặc bộ áo dân tộc để tổ tiên từ xa còn thấy con cháu không quên gốc rễ.
Lanh nghe mẹ nói vậy thì ậm ừ rồi lảng sang chuyện khác.
Lanh và Mạnh quay trở lại Hà Nội để làm việc, sau đó Lanh nhận được cuộc gọi của mẹ. Qua một vài câu hỏi thăm mẹ dặn Lanh mẹ đã để trong túi đựng mĩ phẩm của Lanh bộ quần áo Nùng mẹ chuẩn bị cho Lanh mặc trong ngày dạm ngõ. Lanh không biết đội khăn thì mẹ đã đính chỉ sẵn vào các nếp gấp, chỉ cần đội lên đầu, bẻ nắn các nếp cho nhọn ra hai cạnh sang hai bên thật vuông là được. Hôm ấy vội vàng mẹ sợ không kịp đội khăn cho Lanh, mẹ bảo cái khăn ấy trước đây mẹ đã rất kì công túm vải, buộc thật chặt bằng chỉ đến hàng trăm nút mới nhuộm ra cái khăn chấm đẹp như thế. Mẹ bảo Lanh hãy nhớ mang bộ quần áo theo, dù mặc trong chốc lát trong ngày dạm ngõ thôi cũng được. Hôm ấy bố mẹ sẽ ra thành phố chờ Lanh từ Hà Nội lên cùng đón nhà trai.
Ngày dạm ngõ của Lanh cũng đến. Bố mẹ Lanh và mấy người thân bên nội ngoại cùng chú Thụ làm đại diện nhà gái đã đến nhà hàng từ sớm, Lanh đã chờ sẵn cả đoàn nhà gái ở đó. Buổi lễ dạm ngõ được tổ chức trong nhà hàng mà Lanh đã liên hệ. Không gian chính nơi diễn ra cuộc trao đổi bàn bạc của hai bên rất lịch sự, được trang hoàng lộng lẫy. Tất cả các bàn, ghế đều trải khăn trắng, bọc ghế trắng sạch sẽ, lung linh nhất là sân khấu, nơi có ma két và rất nhiều hoa trang trí, đèn màu cũng sáng lung linh. Không chỉ bố mẹ Lanh mà cả hai bên nội ngoại cũng chưa bao giờ được đặt chân đến nhà hàng sang trọng để dự lễ cưới hỏi bao giờ. Lanh giục bố mẹ chỉnh trang lại trang phục cho lịch sự để đón tiếp nhà trai. Bố đã mặc chiếc áo sơ mi, quần âu Lanh mới mua cho từ lần về cùng Mạnh. Còn mẹ, mẹ Lanh không mặc bộ áo dài con gái đã chuẩn bị cho, dù Lanh thuyết phục nhưng mẹ vẫn mặc bộ áo chàm truyền thống thẳng từng nếp gấp, mẹ bảo ngày nay không mấy ai mặc quần chân què bằng vải chàm nữa, mẹ mặc quần sa tanh với áo Nùng cho lịch sự, và mẹ đội chiếc khăn chấm ngày cưới chị gái Lanh mẹ cũng đã đội. Cùng đi với mẹ, bá Nhình, cô Thơi cũng mặc bộ áo Nùng như mẹ, mỗi người đều có chiếc túi da màu đen nho nhỏ đeo chéo qua vai. Ba người phụ nữ ngắm cho nhau, chỉnh khăn cho nhau, họ ngắm mình trong gương vẻ mặt tươi vui rạng rỡ, rồi cả ba người tranh thủ lên sân khấu chụp ảnh. Trông họ vui ríu rít như đi hội xuân, thấy Lanh mặc bộ áo dài màu trắng mẹ khẽ hỏi:
- Con có mang bộ quần áo Nùng về mặc không? Chút nữa con mặc vào nhé? Con chụp lấy vài kiểu ảnh để mẹ ngắm cho đỡ nhớ.
Đáp lại sự mong chờ của mẹ, Lanh nói:
- Con quên mất rồi! Với cả con còn trẻ, thời đại cũng thay đổi rồi, con mặc bộ chàm không hợp khi ở nhà hàng, không đồng bộ với anh Mạnh. Mà mẹ ơi! Khi nhà trai đến mẹ nhớ đừng nói với mọi người bằng tiếng Nùng nhé, kể cả với những người trong họ nhà mình - Nói xong Lanh lại tất tả đi lo công việc.
Mẹ Lanh không nói gì nhưng thoáng chút buồn, chẳng lẽ con gái xấu hổ khi mình là dân tộc Nùng ư? Sợ nhà trai người Kinh nghe tiếng cha sinh mẹ đẻ của bố mẹ cô dâu lại khinh rẻ hay sao?
Rồi khi nhà trai cũng đến. Cả đoàn nhà trai đều rất ngạc nhiên và trầm trồ nhà gái đã đón tiếp nhà trai ở một nơi lịch sự, sang trọng và chu đáo đến thế. Bộ trang phục của bá Nhình, mẹ Lanh và cô Thơi sao độc đáo đến vậy? Để trả lời câu hỏi, thắc mắc của nhà trai, chú Thụ là đại diện nhà gái, người trong họ và cũng làm ở phòng văn hóa của xã lên tiếng:
- Thưa các ông, các bà nhà trai, anh chị tôi đây đều là người dân tộc Nùng, là nông dân chất phác, anh chị đã vất vả lam lũ nhưng nuôi dạy cháu Lanh giỏi giang nhất xã. Cũng vì vất vả lo cho con nên chưa xây cất lại được ngôi nhà khang trang, lo ngại nhà trai cười chê nên mời đoàn mình đến đây tiếp đón cho chu đáo, xin hẹn một ngày gần nhất được đón các ông bà nhà trai tại nhà gái ở Nà Pất. Còn về bộ quần áo Nùng này là bộ trang phục truyền thống, đúng nguyên bản nhuộm chàm từ trước đây, nhớ tuyền thống của các cụ để lại, cứ đến ngày trọng đại sẽ mặc, vừa là phong tục vừa là nét văn hóa các ông, các bà ạ.
Đáp lời chú Thụ, bố Mạnh lên tiếng:
- Thằng Mạnh con trai tôi gặp gỡ, yêu thương cái Lanh con gái ông bà đó là duyên, vì thế chúng ta mới biết nhau. “Thông gia đồng nhất gia”, chúng tôi ở Hà Nội thật nhưng cũng là người lao động giản dị, gia đình chúng tôi không phân biệt dân tộc, không phân biệt giàu nghèo, ông bà không phải ngại. Đáng lí ra phải để họ nhà trai đến nhà dâng lễ cúng Tổ tiên mới phải phép. Thằng Mạnh còn trẻ không hiểu về lễ nghĩa, không khuyên bảo vợ, còn chúng tôi cứ tưởng chủ ý của ông bà. Ông bà là người dân tộc mà nuôi dạy được con gái giỏi giang như vậy chúng tôi phải cám ơn chứ. “Nhập gia tùy tục”, chúng tôi cũng không câu nệ gì, bộ trang phục của các bà đây rất đẹp. Thế mà ông không mặc áo Nùng cùng với bà.
Hai ông bố cười vang, bà thông gia cũng khen mẹ Lanh duyên dáng, chắc khi trẻ bà cũng đẹp lắm. cả bốn người cùng nâng chén chúc cho sự gặp gỡ và gắn kết hai gia đình. Mẹ Lanh cũng không còn thiếu tự tin vì không nói sõi tiếng Kinh, hai bà thông gia ngồi cạnh nhau nói chuyện vui vẻ về gia đình, về con cái, về phong tục của hai vùng.
Buổi dạm ngõ đã kết thúc trong sự vui vẻ của hai bên, ngày cưới đã định, lễ cưới cũng đã thống nhất lễ đón dâu theo phong tục dân tộc Nùng và tổ chức đón dâu từ nhà gái tại Nà Pất. Tất cả cùng háo hức mong đợi gặp lại nhau trong ngày cưới của đôi trẻ Mạnh - Lanh để hiểu hơn về văn hóa của người Nùng.
Sau lễ dạm ngõ Lanh băn khoăn, áy náy mãi vì câu nói của bố Mạnh: “Đáng lí ra phải để họ nhà trai đến nhà dâng lễ cúng tổ tiên mới phải phép…” và câu nói của chú Thụ cứ văng vẳng bên tai: “Bộ quần áo Nùng … vừa là phong tục vừa là văn hóa”. Suy nghĩ về điều đó Lanh cảm thấy mình thật nông cạn, đáng ra những điều giản dị Lanh cần cảm thấy tự hào thì cô đã từng xấu hổ vì điều đó.
Lanh mở cái túi ni-lon màu xanh lấy bộ quần áo chàm ra ngắm. Cả áo và quần đều lộn trái được mẹ gấp lại rất nhỏ. Chiếc áo màu chàm lam đậm bằng vải dệt từ sợi lanh còn hằn từng nếp gấp. Lanh lộn phải ra và ngắm từng cái khuy áo. Các khuy được kết hoàn toàn bằng vải được đính vào áo bằng chỉ màu, mũi khâu đều tăm tắp, đường chỉ màu đỏ bóng đẹp mới tinh. Ống tay áo và đường nẹp của vạt trước ngang vai đều viền bằng vải láng màu đen, cầu vai và các tà áo được nẹp bên trong bằng vải hoa, và có một đường viền bằng vải hoa tô điểm thêm cho phần cổ áo, ngay bên sườn áo, chỗ xẻ tà, mỗi bên có một túm chỉ màu, tua chỉ cũng được kết lại rất đẹp. Cái quần cũng bằng vải lanh may kiểu chân què, có dây rút ở cạp quần, mẹ bảo ngày xưa không có bàn là nên đều phải gấp lại, ép vật nặng lên cho quần áo phẳng phiu, chỉ quần áo mới thì mới có nếp gấp như vậy. Lanh cầm lấy chiếc khăn đã được mẹ đính sẵn. cô ngắm nghía từng chấm trắng trên khăn, mỗi chấm nhỏ hơn cả đầu đũa, mà có đến hàng trăm chấm như vậy. Để có được mỗi chấm trắng ấy mẹ cô đã túm vải, cuốn chỉ biết bao lâu để màu chàm không thấm vào chỗ ấy. Giờ Lanh cũng đã hiểu thì ra tên đầy đủ của người Nùng quê cô mang tên Nùng Phàn Slình Hua Lài nghĩa là Nùng Phàn Slình Đầu Chấm bắt nguồn từ chiếc khăn đội đầu nhuộm chàm chấm trắng. Lanh mặc cả bộ quần áo vào rồi ngắm mình trong gương, cô cười một mình. Sau đó cô lại tìm cách gấp lại theo nếp cũ cất ngay ngắn trong va ly.
Một tháng sau, vào một ngày nắng đẹp, mẹ Lanh thấy điện thoại báo tin nhắn liên hồi. bà mở điện thoại, thì ra Lanh gửi rất nhiều ảnh cô mặc bộ quần áo Nùng của bà gửi cho cô. Bức thì Lanh chụp một mình, có bức lại chụp cùng rất nhiều người, có ảnh đang trình diễn, có ảnh Lanh nhận giải... trông ảnh nào gương mặt cô cũng rạng rỡ, xinh tươi. Lanh nhắn cho mẹ một đoạn dài: “Con đại diện công ty tham gia thi trang phục dân tộc trong Ngày hội các dân tộc tại Làng văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam mẹ ạ. Con được giải Nhì. Có rất nhiều người mặc áo dân tộc nhưng là áo cách tân, cách điệu. Ai cũng khen con mặc áo Nùng truyền thống rất đẹp, chính chất vải thô mộc và màu chàm từ lá cây tạo nên sự độc đáo vì trang phục Nùng chưa bị mai một, lai căng. Câu chuyện của chính con là một người dân tộc trẻ, hiện đại đã từng lãng quên rồi đến khi tự hào về bộ quần áo chàm đã làm Ban giám khảo và khán giả xúc động. Con cám ơn mẹ đã giữ được bộ áo Nùng nhuộm chàm truyền thống. Con đã hiểu tại sao mẹ muốn con mặc bộ áo chàm này trong ngày trọng đại, con sẽ gìn giữ thật cẩn thận.” Mẹ Lanh đưa cho bố Lanh nhẩm đọc từng chữ, nghe xong thì bà rưng rưng, bà ngắm nghía từng bức ảnh, bà thích nhất bức ảnh chân dung Lanh lấy đuôi khăn che một góc khuôn mặt. Trong bức ảnh trông Lanh dịu dàng, e ấp, bà như thấy lại hình ảnh của mình xưa kia. Ngắm xong bà bèn gọi cho Lanh:
- Lục sáo ới! Cố vạ lục lụng sừ Nong hút mế lúc hoi! Tàng là lục phơc hởn, đáy hởn, phà mư sụm mi đắm vì mi ném ham pen mế. (Con gái à! Bố bảo con mặc áo Nùng giống mẹ ngày xưa! Chỉ khác là con trắng trẻo, xinh hơn, bàn tay cũng không đen vì dính màu chàm như mẹ.)
Bố Lanh ngồi cạnh nghe hai mẹ con nói chuyện cũng nói chen vào:
- Lúc hoi hau thích mế mưn, thích cà phà mư nhóm ham, mói pay tô họp mế mưn đó mư khàu lam sừ. Mi sự cưn hây sụm mi phà mư pen tế đớ. (Ngày trước tôi mê mẹ nó, mê luôn cả đôi bàn tay dính màu chàm, mỗi khi gặp nhau mẹ nó hay giấu tay trong vạt áo. Không phải ai cũng có bàn tay như thế đâu.)
Lanh cười nói với mẹ:
- Mọi bạt lục khoe bộ sừ khà lục lụng tư mế hẹt hừ, cưn hây cụng hặn đáy lái, mọi cưn vạ mế là cưn nghệ nhân. Sừ khà của cưn hau vựn nêm đày mế ạ. (Khi con khoe bộ quần áo con mặc do mẹ làm ra, ai cũng trầm trồ, họ bảo rằng mẹ đúng là một nghệ nhân. Trang phục dân tộc truyền thống còn là vẫn giữ được văn hóa đấy mẹ ạ.)
Nguồn: https://baolangson.vn/bo-ao-cham-bi-bo-quen-5078270.html







Bình luận (0)