Cân nhắc sửa lại tên gọi
Cho ý kiến tại phiên thảo luận ở Tổ 13 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh: An Giang và Quảng Trị) về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam sáng nay, 20/4, các đại biểu cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Tuy nhiên, theo một số đại biểu, cần cân nhắc về tên gọi của dự thảo Nghị quyết. ĐBQH Trần Vũ Khiêm (Quảng Trị) đề xuất, cần sửa lại thành dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam.
Bởi “ghi như dự thảo hiện nay là trùng với tên Nghị quyết của Bộ Chính trị, không thể hiện được quyết tâm chính trị trong thể chế hóa Nghị quyết của Đảng - trên cơ sở nhận diện đúng bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là hạn chế trong phân bổ nguồn lực, cơ chế xã hội hóa, đầu tư cho văn hóa để đề ra chính sách đặc thù phát triển văn hóa Việt Nam”, đại biểu Trần Vũ Khiêm nêu vấn đề.
Mặt khác, theo đại biểu Trần Vũ Khiêm, việc điều chỉnh tên gọi của dự thảo Nghị quyết cũng phù hợp, thống nhất nội hàm của Nghị quyết, khi trong nội dung đề cập đến một số cơ chế, chính sách về thu hút nguồn lực, ưu đãi đầu tư về bảo tồn văn hóa.
Tán thành với ý kiến trên, ĐBQH Nguyễn Ngọc Hùng (An Giang) cho rằng, nên điều chỉnh lại tên gọi là dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam. Nếu để như tên gọi hiện nay thì đối tượng rất rộng, trong khi phạm vi điều chỉnh vẫn là một số cơ chế, chính sách đột phá để phát triển văn hóa.
Tạo hành lang tín dụng tốt cho văn hóa
Góp ý cụ thể vào nội dung dự thảo Nghị quyết, đại biểu Trần Vũ Khiêm phân tích, Khoản 1, Điều 5 dự thảo Nghị quyết về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa quy định: sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim; triển lãm; thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật ngoài quy định tại điểm k khoản 2 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng được hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%. Điều này cho thấy sự quan tâm ưu đãi dành cho ngành văn hóa.
Tuy nhiên, theo đại biểu, bản chất ngành công nghiệp văn hóa là tài sản trí tuệ. Doanh nghiệp công nghiệp văn hóa không phụ thuộc nhiều vào máy móc, đất đai mà phụ thuộc nhiều vào ý tưởng, nội dung, thương hiệu, bản quyền. Giá trị cốt lõi của việc nâng đỡ cho ngành công nghiệp này nằm ở khả năng kiểm soát, khai thác và bảo vệ bản quyền. Thuế chỉ tác động phần “ngọn” (lợi nhuận), không tác động “gốc” (doanh thu). Điều này cũng đúng với âm nhạc, nội dung số, game và toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo.
“Hiện, chúng ta đang đối mặt với các vấn đề vi phạm bản quyền diễn ra phổ biến trên môi trường số, nội dung bị khai thác lại mà không xin phép. Doanh thu quảng cáo chủ yếu rơi vào nền tảng xuyên biên giới. Người sáng tạo không nhận được phần giá trị tương ứng. Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta chỉ tập trung vào ưu đãi thuế thì chính sách rất khó sẽ không nhằm trúng điểm nghẽn, khó tạo ra chuyển biến thực chất, thậm chí có thể bị lợi dụng”, đại biểu Trần Vũ Khiêm chỉ rõ.
Dẫn kinh nghiệm tại Hàn Quốc, đại biểu cho biết, thành công của làn sóng văn hóa Hàn Quốc vừa qua không đến từ ưu đãi thuế đơn thuần, mà từ hệ thống bảo hộ bản quyền rất chặt chẽ, cùng với cơ chế thực thi mạnh mẽ.
Từ thực tiễn đó, đại biểu Trần Vũ Khiêm đề nghị bổ sung quy định mang tính đột phá về bản quyền trong dự thảo Nghị quyết. Ví dụ, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa được bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan theo cơ chế tăng cường bảo hộ với những cơ chế đặc thù, ưu đãi vượt trội so với quy định tại các điều 21, 22, 23 Luật Sở hữu trí tuệ 2025.
ĐBQH Trình Lam Sinh (An Giang) lại cho rằng, mức ưu đãi thuế là rất quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa. Đại biểu cho biết, tại Hàn Quốc, Nhật Bản, đặc biệt là Trung Quốc, đều đưa ra ưu đãi thuế suất rất cao, đặc biệt là với các dự án lớn, có thể đưa văn hóa, hình ảnh đất nước đó trở thành điểm nhấn trên toàn thế giới trong khoảng 1 hoặc 2 năm.
Cũng theo đại biểu, cần tạo hành lang tín dụng tốt cho văn hóa phát triển. Bởi thực tế, tại các nước trên, thay vì ngân sách nhà nước "rót xuống", thì họ đều chuyển sang cơ chế tạo điều kiện cho nguồn vốn xã hội "chảy vào" lĩnh vực văn hóa, cụ thể là các dự án văn hóa lớn, như phim ảnh, một loạt dự án thuộc về công nghiệp văn hóa số.
Đại biểu Trình Lam Sinh đề nghị, chúng ta nên thiết lập một khung thuế suất ưu đãi. Nếu không, nên có mức miễn thuế có thời hạn để công nghiệp văn hóa phát triển. Đồng thời, cần hình thành cơ chế quỹ tín dụng văn hóa lãi suất thấp dành riêng cho nghệ sĩ khởi nghiệp, doanh nghiệp văn hóa vừa và nhỏ có điều kiện phát triển - đây là cách chúng ta đã từng làm ở nhiều lĩnh vực.
Có cơ chế đặc thù bảo tồn, phát huy di sản thiên nhiên thế giới
Một vấn đề khác được đại biểu Trần Vũ Khiêm quan tâm là thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa. Theo đại biểu, cấp phép biểu diễn, sản xuất phim, quay phim tại di sản, triển khai dự án đầu tư… đang vướng nhiều thủ tục kéo dài, chồng chéo giữa nhiều luật. Thực tế cho thấy, có những dự án mất hàng năm trời để xin ý kiến, thậm chí bỏ lỡ cơ hội vì chậm thủ tục hành chính. Trong khi, dự thảo chưa đề cập đến cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn này.
Đại biểu dẫn chứng, các di sản thiên nhiên thế giới, như Quần thể di tích danh thắng Tràng An, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Vịnh Hạ Long có rất nhiều tiềm năng để phát huy giá trị tài nguyên gắn với phát triển bền vững, được xác định là khu vực động lực trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương.
Tuy nhiên, việc cấp phép, triển khai các dự án trong các khu vực trên gặp rất nhiều khó khăn, tốn thời gian do các quy định liên quan đến Luật Di sản Văn hóa năm 2024, Luật Lâm nghiệp năm 2017, Công ước của UNESCO, Luật Đầu tư, Luật Đất đai…
Đặc biệt, các di sản xuyên biên giới như Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - Vườn quốc gia Hin Nậm Nô (Lào), di sản liên địa phương như Vịnh Hạ Long - Cát Bà, Quần thể di tích danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm gặp rất nhiều khó khăn trong xây dựng điểm đến chung, phát huy giá trị tài nguyên vào phát triển du lịch bền vững, nâng cao sinh kế và lợi ích cộng đồng.
“Điều này làm ảnh hưởng đến việc bố trí nguồn lực đầu tư, thu hút nguồn lực xã hội để triển khai các dự án động lực, vừa bảo tồn vừa phát huy, nâng cao giá trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững, phát triển kinh tế tuần hoàn”.
Từ thực tế trên, đại biểu Trần Vũ Khiêm đề nghị nghiên cứu, bổ sung nội dung: “Có cơ chế đặc thù cho công tác bảo tồn, phát huy các di sản thiên nhiên thế giới và phân quyền cho các địa phương trong việc ban hành, đề xuất, triển khai các chính sách thí điểm theo các cơ chế đặc thù đó”.
Bên cạnh đó, hiện nay, hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là nguồn lực rất lớn, một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết chưa đề cập nhiều đến các cơ chế, chính sách mang tính đột phá trong lĩnh vực này.
Tại địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện có hơn 700 di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng cùng hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú, không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, ký ức hào hùng của dân tộc, mà còn là không gian văn hóa, trở thành “địa chỉ đỏ” trong giáo dục truyền thống, góp phần tạo nên hệ giá trị quốc gia.
“Nếu chúng ta chỉ xem đây chỉ là đối tượng thụ hưởng của Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa thì khó có thể phát huy hết nguồn sức mạnh nội sinh này”. Lưu ý như vậy, đại biểu Trần Vũ Khiêm đề nghị dự thảo Nghị quyết cần bổ sung quy định mang tính đột phá nhằm phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn, trở thành sản phẩm kinh tế sáng tạo, thay vì chỉ dừng ở bảo tồn tĩnh như hiện nay.
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/bo-sung-quy-dinh-dot-pha-ve-ban-quyen-10414242.html






Bình luận (0)