Trong bối cảnh chi phí sản xuất thủy sản ngày càng tăng, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe, nhiều hộ nuôi cá tại tỉnh Bắc Ninh đã mạnh dạn thay đổi cách làm. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm, nông dân bắt đầu đưa thiết bị thông minh vào quản lý ao nuôi, nhất là trong mô hình thâm canh cá trắm cỏ ghép với cá rô phi, cá chép.
Cách làm mới này không chỉ giúp giảm sức lao động mà còn tạo điều kiện kiểm soát tốt hơn trong quá trình chăm sóc, cho ăn, tạo oxy và quản lý môi trường ao nuôi. Từ đó, năng suất, chất lượng thủy sản được nâng lên, mở ra hướng sản xuất ổn định, bền vững hơn cho vùng nuôi cá nước ngọt.
Lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh tham quan mô hình ứng dụng công nghệ số vào nuôi thâm canh cá trắm cỏ của gia đình ông Trần Văn Tình. Ảnh: Phạm Minh.
Gia đình ông Trần Văn Tình ở tổ dân phố Tân Cương, phường Yên Dũng là một trong những hộ tham gia mô hình ứng dụng công nghệ số vào nuôi thâm canh cá trắm cỏ ghép với cá rô phi, cá chép từ năm 2025. Với 2,3ha ao, trước đây gia đình ông chủ yếu nuôi cá rô phi kết hợp cá trắm cỏ, cá chép, cá trôi, cá mè theo phương thức truyền thống.
Năm 2025, được Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh hỗ trợ, hướng dẫn, gia đình ông Tình tham gia mô hình nuôi thâm canh, trong đó cá trắm cỏ chiếm 60 - 70% cơ cấu giống. Đây là tỷ lệ phù hợp nhằm phát huy lợi thế của loài cá có giá bán ổn định, dễ tiêu thụ, đồng thời tận dụng hiệu quả không gian và nguồn thức ăn trong ao khi nuôi ghép với các loài cá khác.
Tham gia mô hình, hộ nuôi được tập huấn kỹ thuật, chuyển giao quy trình nuôi thâm canh; hỗ trợ một phần chi phí mua cá giống, thức ăn, hóa chất, chế phẩm sinh học, máy quạt nước, máy cho ăn và bộ thiết bị thông minh điều khiển hệ thống quạt nước, máy cho ăn. Nhờ đó, việc vận hành ao nuôi không còn phụ thuộc quá nhiều vào thao tác thủ công như trước.
Trong suốt thời gian nuôi, cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn hộ nuôi chăm sóc, quản lý môi trường ao. Các khuyến cáo kỹ thuật được đưa ra kịp thời, trong đó nhấn mạnh không sử dụng thiết bị, hóa chất, dụng cụ có thể gây hại cho cá.
Nguồn thức ăn hỗn hợp, thuốc phòng bệnh, chế phẩm sinh học được lựa chọn từ các cơ sở sản xuất có uy tín, được cấp phép và nằm trong danh mục được phép lưu hành. Bên cạnh thức ăn công nghiệp, hộ nuôi còn tận dụng nguồn thức ăn tự chế biến như cỏ voi, ngô, thóc ủ mầm... bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng. Đây là yếu tố quan trọng giúp cá sinh trưởng tốt, giảm rủi ro dịch bệnh, hạn chế lạm dụng kháng sinh, hóa chất trong quá trình nuôi.
Hệ thống quạt nước, máy cho ăn tự động được điều khiển hợp lý, cá được cung cấp oxy, thức ăn đúng nhu cầu, môi trường ao nuôi ổn định hơn. Ảnh: Phạm Minh.
Theo ông Trần Văn Tình, thiết bị thông minh giúp việc chăm sóc, quản lý ao nuôi thuận lợi hơn, chi phí giảm đáng kể. Đặc biệt, cá trắm cỏ là đối tượng nuôi có nhiều lợi thế do không đòi hỏi quá cao về dinh dưỡng, chi phí sản xuất thấp, trong khi giá bán cao và tương đối ổn định. Hiện cá trắm cỏ thương phẩm loại 1 giá bán dao động từ 50.000 - 65.000 đồng/kg tại ao, đầu ra thuận lợi.
Sau 8 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng 2,1kg/con, tăng 1,8 - 1,9kg so với thời điểm bắt đầu nuôi. Năng suất ao nuôi theo mô hình đạt xấp xỉ 28,5 tấn/ha. Tổng doanh thu đạt gần 940 triệu đồng, lợi nhuận gần 180 triệu đồng/ha, cao hơn 20% so với diện tích ao nuôi còn lại của gia đình ông Tình.
Những con số này cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc kết hợp giữa kinh nghiệm sản xuất của nông dân với tiến bộ kỹ thuật và thiết bị thông minh. Khi hệ thống quạt nước, máy cho ăn được điều khiển hợp lý, cá được cung cấp oxy, thức ăn đúng nhu cầu, môi trường ao nuôi ổn định hơn. Đây là nền tảng quan trọng để giảm hao hụt, rút ngắn thời gian nuôi, nâng năng suất và tăng lợi nhuận.
Theo ông Ngô Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh, toàn tỉnh hiện có 16.200ha mặt nước được khai thác để nuôi thả cá. Cơ cấu cá nuôi trong ao thường kết hợp nhiều loài theo nguyên tắc nuôi ghép nhiều tầng nhằm tận dụng nguồn thức ăn và tối đa hóa không gian ao nuôi.
Tùy điều kiện ao nuôi, khả năng và mức độ đầu tư, mỗi hộ có thể bố trí cơ cấu cá nuôi phù hợp. Trong đó, cá trắm cỏ hiện chiếm khoảng 50% cơ cấu cá nuôi trong ao trên địa bàn tỉnh. Đây là đối tượng thủy sản có tiềm năng phát triển nếu được tổ chức sản xuất theo hướng thâm canh an toàn, kiểm soát tốt môi trường và nâng cao chất lượng thương phẩm.
Việc ứng dụng công nghệ số vào thâm canh cá trắm cỏ ghép với cá rô phi, cá chép đang cho thấy hướng đi thiết thực đối với ngành thủy sản Bắc Ninh. Không chỉ giảm công lao động, mô hình còn góp phần hạn chế sử dụng kháng sinh, hóa chất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tăng giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích mặt nước.
Từ hiệu quả bước đầu của mô hình tại phường Yên Dũng, có thể thấy chuyển đổi số trong nuôi thủy sản không còn là câu chuyện xa vời. Khi thiết bị thông minh được đưa vào đúng khâu, đúng nhu cầu sản xuất, người nuôi cá có thêm công cụ để quản lý ao nuôi khoa học hơn, chủ động và bền vững hơn.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/ca-tram-co-len-doi-nho-cong-nghe-so-d809411.html








