
Hai “cụ” vải thiều ở chùa Svay Ta Hon vẫn xanh tốt sau hơn 300 mùa trái. Ảnh: THANH TIẾN
Trăm năm hương vải
Trong chuyến về vùng đất Ô Lâm anh hùng, tôi có dịp thăm lại 2 cây vải thiều hơn 300 năm tuổi tại chùa Svay Ta Hon. Lần thứ hai trở lại, tôi vẫn thích thú khi trông thấy 2 cây đại thụ. Vải thiều không hiếm, nhưng “cụ” vải thiều hơn 300 năm tuổi thì quả là độc nhất! Đến sân chùa trong buổi trưa nhưng tôi không hề thấy nóng bức. Trong khoảng sân chùa rộng mênh mông, 2 cây vải thiều tỏa bóng mát rượi.
Đến gần cây mới nhận rõ dấu vết thời gian hằn rõ trên bộ rễ già nua. Gặp sư cả Chau Hên của chùa Svay Ta Hon, ông vẫn khỏe như cách đây vài năm. Khi được hỏi về 2 cây vải thiều, sư Chau Hên xởi lởi: “Nghe ông già, bà cụ nói lại là tuổi cây tương xứng với tuổi chùa. Có một ông sư cả lên tận Xiêm Riệp (Vương quốc Campuchia) mang về 3 cây vải thiều trồng trong sân chùa. Sau mấy trăm năm, giờ còn 2 cây vẫn xanh tốt. Sư cùng phật tử của chùa xem đó như báu vật!”.
Theo lời sư Chau Hên, mùa hè, 2 cây vải xanh um, tươi tốt. Mùa thu, lá vải sũng ướt những cơn mưa. Xuân đến, cây vươn mình đón ánh nắng vàng. Tháng 2, vải bắt đầu trổ bông. Tháng 3, những chùm quả đầu tiên lấp ló sắc đỏ hồng qua nách lá. Sư Chau Hên cho biết, trái vải có vị chua ngọt vừa phải, chứ không ngọt gắt như loại vải thiều bán ở chợ hiện nay. Phật tử đến chùa thường xin sư ít quả để cúng Phật, rồi thưởng thức hương vị trăm năm kết tinh từ mảnh đất quê hương.
Theo thời gian, chùa Svay Ta Hon có nhiều thay đổi, phum, sóc Khmer xung quanh chùa cũng khác đi, chỉ có 2 cây vải thiều vẫn ở đó. Chúng trở thành một phần lịch sử của vùng đất này, chứng kiến bao biến thiên của thời cuộc. Vì 2 “cụ” vải thiều này thuộc diện rất hiếm, nên du khách hay ghé lại tham quan, chụp ảnh. Đứng trước 2 thân cây già nua to lớn, bất cứ ai cũng phải xuýt xoa bởi sự trường tồn, vững chãi của chúng qua thời gian để dâng cho đời mấy trăm mùa trái chín.
Mang giá trị độc đáo, 2 cây vải thiều chùa Svay Ta Hon được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là “Cây di sản Việt Nam”. “Vì 2 cây vải là của ông bà xưa để lại, nên sư phải giữ gìn cẩn thận rồi truyền lại cho thế hệ tiếp theo. Mong cây sẽ luôn tươi tốt, sống lâu dài với thời gian để con cháu còn được biết đến di sản ông bà để lại”, sư Chau Hên chia sẻ.
Khi tên cây trở thành tên đất
Không chỉ vùng Bảy Núi mà xứ đầu nguồn Khánh Bình cũng sở hữu “cụ” cây khá cao niên. Nếu có dịp về xã Khánh Bình, hỏi thăm giồng Cây Da thì ai cũng biết. Theo những người dân sống nhiều năm ở giồng Cây Da, “cụ” cây hẳn có từ thời lớp lưu dân đầu tiên đến “cắm dùi” lập nghiệp ở vùng đất đầu nguồn. Ông Nguyễn Văn Liệt, người dân sống gần cây da cho biết: “Cây da này có từ hồi nào thì không ai rõ. Hồi còn nhỏ, tôi được ông cố kể lại rằng lúc ông về xứ này dựng nhà ở thì cây da đã cao lớn lắm. Bề hoành của cây rất lớn, phải hơn chục người lớn dang tay mới giáp. Tính tới đời tôi, thì cây da đã sống qua 4 đời trong dòng họ rồi!”.
Theo ông Liệt, cây da này còn được người dân gọi với cái tên khác là sung reo. Do kích thước lá lớn, nên mỗi khi có gió thổi sẽ tạo ra âm thanh vui tai, tựa như tiếng reo. Trước đây, cây da có tán tròn, đầy đặn như cây bonsai khổng lồ. Do chiến tranh và thời gian, thân cây bị gãy nhiều nhánh. Đến gần cây sẽ thấy rõ dấu vết của thời gian, những bọng cây lớn đến mức mấy đứa nhóc có thể chui vào để chơi trốn tìm.
Do cây sống lâu năm, người dân địa phương cũng đặt niềm tín ngưỡng ở “cụ” da. Họ hay gọi cây bằng danh xưng “ông”, lập bàn hương án thờ phụng trang nghiêm. Cạnh gốc cây, họ lập miếu thờ ông Tà, một kiểu tín ngưỡng dân gian gắn chặt với văn hóa tâm linh của người miền Tây. Những ngày lễ, tết, người dân thường đến đây cầu bình an, công việc hanh thông. “Hồi thời Polpot pháo kích, dân xứ này sơ tán khỏi làn đạn, giồng Cây Da chắc không còn ai ở lại ngoài “ổng”. Sau chiến tranh, người ta kéo nhau về xứ thì cây da còn đó. Đến nay, người dân sống ở giồng vẫn quý trọng cây da lắm”, ông Liệt kể.
Có dịp đến thăm cây da, mới thấy “cụ” hùng vĩ thực sự. Tán cây to lớn, che mát cả một vùng. Đám trẻ quê hay kéo nhau đến chơi dưới tán cây, cười đùa ríu rít như thế hệ cha ông của chúng đã từng. Không chỉ là niềm tin, người dân địa phương cho biết trái cây da có vị thuốc trị đau dạ dày. Chúng có hình dạng giống như trái sung, khi sống ăn vừa chua, vừa chát, nhưng lúc chín thì hơi ngọt.
Trải qua bao mùa mưa nắng, cây da già cỗi vẫn xanh mát trên mảnh đất giồng Cây Da, chứng kiến bao thế hệ người sinh ra, lớn lên để dựng xây xứ đầu nguồn. Với giá trị tinh thần gắn chặt cùng đời sống người dân, cây da cần được bảo vệ, giữ gìn tốt hơn để mãi xanh tốt, lưu giữ một phần lịch sử phát triển của vùng đất đầu nguồn An Giang mát ngọt phù sa.
THANH TIẾN
Nguồn: https://baoangiang.com.vn/cay-tram-tuoi-giu-hon-que-a481423.html






Bình luận (0)