Quê tôi, xã Nga Tân - vùng trồng cói nghèo nhất trong 26 xã của huyện Nga Sơn (cũ), Thanh Hóa...
Người dân nơi ấy quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, sống chết nhờ cây cói. Cái nghèo bám riết như sương muối cuối đông. Người ta từng gọi chệch đi hai chữ Nga Tân thành “Nga bêu” - một cách nói nửa đùa nửa thật mà nghe se sắt lòng.
Xã Nga Tân (giờ là xã Tân Tiến) là một trong 6 nơi trồng cói của huyện Nga Sơn thủa ấy. Cói mọc trên những bãi bồi ven biển, lớn lên giữa gió Lạch Sung mặn mòi và lớp đất pha mặn khô khát.
Để dệt thành một tấm chiếu hoa bền chắc, người dân phải chẻ cói, phơi nắng, nhuộm màu, rồi xe sợi đay, ngồi bên khung dệt từng đường ngang dọc. Những sợi cói mảnh mai nhưng dẻo dai ấy thấm đẫm mồ hôi, thấm cả những mùa dông gió. Tấm chiếu hoa không chỉ là vật dụng hữu ích trong nhà, mà còn là hơi thở của làng nghề Nga Sơn bao đời truyền thống.
|
|
Chiếu hoa bày cỗ: Bữa cơm Tất niên 35 năm trước do mẹ nấu mãi là ký ức đẹp mỗi khi Tết đến xuân về. |
Những năm bao cấp, Tết vắng bóng miếng thịt là điều chẳng lạ.
Bước sang thời kỳ đầu đổi mới, cuộc sống có nhích lên đôi chút, nhưng cái nghèo vẫn như chiếc áo dày quấn chặt chẳng dễ gì cởi bỏ.
Nhà tôi bảy chị em, đông đúc mà thiếu thốn. Mỗi khi Tết còn cách dăm bảy tuần, mẹ đã lặng lẽ tính toán, chắt chiu từ sớm, gom góp từng đồng cho một cái Tết đủ đầy hơn. Tiền bán mớ rau muống, mồng tơi, xời cáy ngoài chợ huyện được mẹ gói ghém trong góc tủ. Giữa tháng Chạp, mẹ mua vài lạng mộc nhĩ, cân miến dong để làm giò mỡ; mấy cân gạo nếp ròng được đổ vào chiếc vò nhỏ, đậy kín như cất giữ niềm hy vọng cho một cái Tết “ra Tết”.
Ở quê tôi cuối những năm 1999-2000, bánh chưng nếp ròng vẫn còn là thứ không phải nhà nào cũng có. Giò nạc lại càng xa xỉ. Người nghèo quen ăn giò mỡ vừa rẻ, vừa đỡ tốn kém. Nhưng đã là Tết, dẫu chỉ thêm một đĩa giò mỡ đặt lên mâm, lòng người cũng thấy năm mới đang gõ cửa.
Sáng ba mươi, gió bấc thổi hun hút. Mẹ dậy từ tinh mơ, quàng chiếc khăn nâu sờn cũ, đội rét ra chợ mua mớ hành tươi về làm món cuốn. Lá hành chần nước sôi xanh mướt, cuộn rau, trứng, tôm khô - thứ quà quê giản dị mà thơm lừng cả gian bếp. Các chị tôi quét lại nền nhà, lau bàn thờ, thay chén nước mới. Mùi nhang trầm, mùi lá dong, mùi miến xào quyện vào nhau, tạo thành hương Tết của riêng nhà mình.
|
|
|
Sân láng xi măng, bể nước - những ký ức quen thuộc một thời. |
|
|
|
Mẹ tôi thấp thỏm bên nồi bánh chưng đêm 30 Tết thủa xưa. |
Mâm cơm cúng trưa ba mươi năm ấy thực ra không nhiều: Đĩa giò mỡ cắt khoanh tròn trịa, chục nem chua xứ Thanh, đĩa cuốn xanh mướt, bát miến dong nghi ngút khói. Đặc biệt nhất là thùng bia 333 và vài lon bò húc tôi mua từ chợ tỉnh mang về. Hồi đó, ở quê tôi, có bia 333 uống Tết là “oách” lắm - chỉ nhà có con đi miền Nam về hoặc có người làm cán bộ mới dám sắm.
Trước bàn thờ tổ tiên, mẹ run run cầm đĩa tiền đài. Lời khấn của mẹ chậm rãi, thành kính: Cầu cho con cháu mạnh khỏe, gia đình bình an, ruộng đồng được mùa. Khói hương bảng lảng. Mắt mẹ ánh lên khi nhìn di ảnh bố - người lính già quá cố đã cùng mẹ đi qua cả đời lam lũ. Trong khoảnh khắc giao mùa ấy, tôi thấy trên gương mặt mẹ không chỉ có nếp nhăn của thời gian, mà còn có ánh sáng của niềm tin vào chúng tôi - những đứa con nối nghiệp cha vào bộ đội, theo nghề mẹ làm ruộng miệt vườn.
Nhang tàn, mâm cơm được dọn xuống trải trên ba chiếc chiếu hoa cói nối dài giữa nền nhà. Hoa văn đỏ xanh đã nhạt theo năm tháng, nhưng sợi cói vẫn bền chắc. Đại gia đình quây quần, chân chạm chân, vai kề vai. Chén rượu quê sóng sánh chuyền tay. Những lời chúc mộc mạc: “Sang năm mạnh khỏe”, “Làm ăn thuận lợi”, “Gia đình hòa thuận”... nghe sao mà ấm lòng đến thế.
Tôi vẫn nhớ như in cảm giác bàn tay chạm vào mặt chiếu mát lạnh, nghe rõ tiếng sợi cói sột soạt khẽ rung mỗi lần nhích người. Tấm chiếu hoa ấy dường như lưu giữ cả hơi ấm của gia đình, ủ lại tiếng cười nói rộn ràng, tiếng bát đũa chạm nhau khe khẽ giữa trưa ba mươi. Nó không chỉ nâng mâm cỗ ngày Tết, mà còn nâng đỡ cả một miền ký ức mộc mạc mà bền bỉ theo năm tháng.
Cả nhà tôi khi ấy gần như cùng nhìn về phía mẹ. Mẹ ngồi giữa chiếu hoa, chậm rãi gắp từng miếng giò, chia đều cho từng đứa. Niềm vui của mẹ đơn giản lắm, chỉ cần các con ngồi đủ quanh mâm, ăn với nhau một bữa cơm trưa ba mươi cho trọn vẹn. Ăn xong, cả nhà ngồi nhai trầu, kể chuyện Tết. Ngoài sân, gió vẫn thổi qua bờ cói khô xào xạc. Mẹ chậm rãi kể: “Ngày xưa người ta bảo no ba ngày Tết, đói ba tháng hè. Khổ lắm con ạ. Hồi ấy làm gì có thịt mà ăn. Giờ thế này là sướng rồi...”
Rồi mẹ kể về đời mình. Lấy bố khi vừa tròn mười sáu, hai bàn tay trắng theo chồng về nhà. Tuổi xuân của mẹ không có son phấn, chỉ có sợi thừng bện thuê chai sần đầu ngón tay, có những buổi theo bố ra đồng chẻ cói giữa mùa đông gió cắt da cắt thịt. Có những hôm mẹ lặn lội ngoài bãi bắt từng con cáy nhỏ đem đổi lấy vài lon gạo, nấu nồi cháo loãng cho đàn con cầm hơi qua bữa. Mùa giáp hạt, mẹ lom khom mót lúa nơi đồng chiêm trũng, bóng mẹ nhỏ thó giữa mênh mang gió lạnh.
Rồi bố vào bộ đội. Tình yêu mẹ dành cho bố từ đó hóa thành những tháng ngày đợi chờ mòn mỏi... Và khi bố hy sinh trước ngày đất nước thống nhất, mẹ lặng đi như chính tấm chiếu hoa trải giữa nhà - âm thầm, bền bỉ, không một lời than. Từ đó, tình yêu của mẹ là nén hương mỗi chiều, là cả cuộc đời lặng thầm ở vậy nuôi con khôn lớn.
Hơn ba mươi năm trôi qua. Thời gian đủ để những manh chiếu cói năm nào sờn rách, đủ để những đứa trẻ năm ấy trưởng thành. Nhưng bữa cơm tất niên trưa ba mươi Tết năm xưa thì chưa bao giờ phai nhạt. Nó như một mảnh Tết cất giữ trong tim, một “di sản” của yêu thương, của nghèo khó mà đượm ấm nghĩa tình.
Tết Bính Ngọ này, tôi lại xa quê. Mâm cơm nơi xứ người có bia Nhật đắt tiền, có chocolate (sô cô la) ngoại. Mọi dư vị đều lạ, sang và hiện đại. Nhưng giữa ánh đèn rực rỡ ấy, tôi vẫn thấy thiếu một điều - thiếu chiếu hoa cói Nga Sơn bày cỗ giữa nền nhà, thiếu tiếng gió lùa qua vách, thiếu dáng mẹ ngồi giữa mâm cơm.
Và mỗi lần nhìn lại tấm ảnh chụp trưa ba mươi năm ấy, lòng tôi lại thắt lại. Trong khung hình cũ kỹ là những gương mặt in hằn nhọc nhằn nhưng ánh mắt sáng lên niềm vui sum vầy. Tôi nghe như còn nguyên tiếng cười rộn rã, tiếng bát đũa chạm nhau khe khẽ trên mặt chiếu hoa.
Dù bao năm tháng đã trôi qua, tôi vẫn nhớ mâm cỗ trưa ba mươi Tết bày trên chiếu hoa năm ấy. Tấm chiếu cói Nga Sơn không chỉ lót dưới mâm cơm, mà còn nâng đỡ cả một thời thơ ấu của tôi - nơi tôi cất tiếng khóc chào đời, nơi ru tôi qua những giấc ngủ trưa hè, những đêm đông giá lạnh nghe gió biển rì rào ngoài vách.
Những sợi cói đan vào nhau như những phận người ven biển, thấm mồ hôi, thấm cả nhọc nhằn và hy vọng. Trên tấm chiếu ấy, gia đình tôi đã cười, đã ăn, đã lớn lên và đi qua năm tháng. Vì thế, nhớ chiếu hoa cũng là nhớ một phần máu thịt quê hương mình...
Mộc mạc mà bền bỉ, giản dị, mà không thể nào quên...
Nguồn: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/chieu-hoa-bay-co-1026249










Bình luận (0)