Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Chuyển đổi đất lúa: Cần xử lý tồn dư hóa chất từ đầu

CẦN THƠ Xu hướng chuyển đổi đất lúa đang ngày càng tăng, song cần giải pháp phù hợp để giảm rủi ro trên cây trồng mới.

Báo Nông nghiệp và Môi trườngBáo Nông nghiệp và Môi trường21/05/2026

Rủi ro tồn dư thuốc bảo vệ thực vật

Sau sáp nhập, TP Cần Thơ trở thành địa phương có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn thứ hai vùng ĐBSCL với khoảng 511.000ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 319.000ha.

Sản xuất lúa đang đối mặt nhiều áp lực như giá cả bấp bênh, chi phí sản xuất tăng cao, lợi nhuận thấp, dẫn đến xu hướng chuyển đổi sang các mô hình canh tác khác đang diễn ra mạnh mẽ tại địa phương. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, năm 2025, tổng diện tích chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả của Thành phố lên đến gần 5.200ha.

Nhiều nông dân trồng lúa mong muốn chuyển đổi để tìm mô hình có hiệu quả kinh tế cao hơn. Ảnh: Kim Anh.

Nhiều nông dân trồng lúa mong muốn chuyển đổi để tìm mô hình có hiệu quả kinh tế cao hơn. Ảnh: Kim Anh.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải mô hình chuyển đổi đất lúa nào cũng thành công. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhưng thường bị nông dân bỏ qua là tình trạng tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật trong đất sau nhiều năm thâm canh lúa.

Theo PGS.TS Nguyễn Khởi Nghĩa - chuyên gia Khoa Khoa học đất - Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ), sản xuất lúa hiện nay vẫn phụ thuộc khá lớn vào các loại thuốc trừ sâu, trừ bệnh. Đặc biệt, các vùng canh tác 2 - 3 vụ/năm trong đất tồn tại một số hoạt chất khó bị phân hủy, tích tụ dần. Do đó, khi nông dân chuyển đổi trồng lúa sang cây ăn trái, rễ của cây mới phát triển trong môi trường đất chưa “sạch”, dễ bị ảnh hưởng.

Một kết quả phân tích mẫu đất tại mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang xoài do Trường Nông nghiệp thực hiện cho thấy tồn lưu của thuốc trừ bệnh đạo ôn trong đất còn cao, nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng trái. Trong điều kiện đất lúa chưa được cải tạo tốt, việc tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thậm chí là kim loại nặng có thể dẫn đến nhiều rủi ro cho cây trồng mới.

“Nếu chuyển từ đất lúa sang cây ăn trái mà xới đất lên, gom thành mô đơn giản sẽ khiến rễ cây bị tổn thương do thoát nước kém, dễ bị sinh vật gây hại, nấm bệnh, tuyến trùng tấn công, dẫn đến chết cây. Điều này lý giải vì sao nhiều mô hình chuyển đổi thất bại ngay từ đầu”, PGS.TS Nguyễn Khởi Nghĩa cho biết.

PGS.TS Nguyễn Khởi Nghĩa - Khoa Khoa học đất, Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) phân tích tác động của việc tồn dư thuốc bảo vệ thực vật khi chuyển đổi đất lúa. Ảnh: Kim Anh.

PGS.TS Nguyễn Khởi Nghĩa - Khoa Khoa học đất, Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) phân tích tác động của việc tồn dư thuốc bảo vệ thực vật khi chuyển đổi đất lúa. Ảnh: Kim Anh.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh TP Cần Thơ đang đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, các tiêu chuẩn về dư lượng hóa chất ngày càng khắt khe. Nếu không kiểm soát tốt từ khâu cải tạo đất, nguy cơ tồn dư hóa chất trong nông sản là rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ. Đáng lưu ý, tại một số vùng sản xuất gần khu công nghiệp hoặc đô thị, đất lúa còn có thể bị nhiễm kim loại nặng từ nước thải, làm gia tăng mức độ rủi ro.

Ngoài ra, việc chuyển đổi đất lúa tự phát, đột ngột còn làm mất cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng. Khi cân bằng sinh học bị phá vỡ, dịch hại dễ bùng phát, buộc nông dân phải gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, vô tình làm tăng lượng hóa chất tồn lưu trong đất, tạo thành vòng lặp khó kiểm soát.

Trước thực trạng này, cuối năm 2025, UBND TP Cần Thơ đã ban hành Quyết định số 3021/QĐ-UBND về Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa năm 2026. Theo đó, Thành phố dự kiến cho phép chuyển đổi gần 3.150ha đất chuyên trồng lúa và đất lúa 1 vụ sang trồng cây hàng năm, cây lâu năm, trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản.

Giải pháp làm sạch đất

Cải tạo đất là bước đi then chốt để hạn chế rủi ro khi chuyển đổi đất lúa. PGS.TS Nguyễn Khởi Nghĩa khuyến cáo nông dân cần tiến hành gửi mẫu đất đi phân tích, đánh giá chính xác các chỉ tiêu cơ bản liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, dinh dưỡng trong đất… Kết quả này sẽ là cơ sở để bà con xác định quy trình cải tạo và công thức bón phân phù hợp với cây trồng mới.

Phân tích chất lượng đất lúa trước khi thực hiện chuyển đổi giúp nông dân đưa ra giải pháp bón phân hợp lý trên cây trồng mới. Ảnh: Kim Anh.

Phân tích chất lượng đất lúa trước khi thực hiện chuyển đổi giúp nông dân đưa ra giải pháp bón phân hợp lý trên cây trồng mới. Ảnh: Kim Anh.

“Nếu bà con không biết nhu cầu dinh dưỡng của đất như thế nào mà chỉ là ước đoán thì rất nguy hiểm. Điều này có thể dẫn đến việc bón thiếu hoặc dư thừa, gây lãng phí và rủi ro”, ông Nghĩa lưu ý.

Để giúp nông dân làm sạch tồn dư thuốc bảo vệ thực vật hay kim loại nặng trong đất lúa, PGS.TS Nguyễn Khởi Nghĩa khuyên bà con cần áp dụng đồng bộ các giải pháp từ vật lý, hóa học đến sinh học. Trong đó, bón vôi giúp cải thiện pH đất, sử dụng than sinh học (biochar), khoáng và phân hữu cơ giúp tăng khả năng hấp phụ, cải thiện cấu trúc đất. Cách làm này còn tạo môi trường thuận lợi cho hệ vi sinh vật phát triển, góp phần phân giải các hợp chất tồn lưu.

Các giải pháp sinh học như bổ sung vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn), nuôi trùn để tăng khả năng lọc và đào thải độc chất trong đất, trồng các loại thực vật có khả năng hút độc chất thuốc bảo vệ thực vật như dương xỉ, rau trai, cải đất, rau sam… là giải pháp chi phí thấp, phù hợp với điều kiện sản xuất của nông dân.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện nay số liệu đăng ký chuyển đổi đất lúa của ĐBSCL là gần 40.000ha. Con số này phản ánh đúng thực tế, mong muốn chính đáng của người dân trong việc tìm kiếm những mô hình canh tác mới có lợi nhuận cao hơn so với trồng lúa.

Các địa phương vùng ĐBSCL đang có nhu cầu chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả gần 40.000ha và còn có thể tiếp tục tăng. Ảnh: Kim Anh.

Các địa phương vùng ĐBSCL đang có nhu cầu chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả gần 40.000ha và còn có thể tiếp tục tăng. Ảnh: Kim Anh.

Ông Nguyễn Quốc Mạnh - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, để sự chuyển đổi này đi đúng hướng và phát huy hiệu quả, ba yếu tố then chốt cần được các địa phương quan tâm. Thứ nhất là đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho nông dân khi chuyển đổi qua cây trồng khác. Trong đó cần khuyến cáo nông dân hạn chế thấp nhất việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, thay vào đó áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng chế phẩm sinh học, bẫy côn trùng… để hạn chế sâu bệnh.

Thứ hai, sau khi chuyển đổi, cơ quan quản lý địa phương cần kiểm soát chặt chẽ vật tư đầu vào, nhất là cây giống, đảm bảo chất lượng và nguồn gốc xuất xứ.

Cuối cùng, khâu tiêu thụ sản phẩm quyết định hiệu quả của việc chuyển đổi. Nếu sản xuất tốt nhưng không bán sản phẩm được hoặc giá thấp, nông dân sẽ quay lại cách làm cũ hoặc chuyển đổi tự phát, thiếu kiểm soát.

Góp ý về chính sách, chuyên gia Nguyễn Khởi Nghĩa cho rằng, các địa phương cần ưu tiên phát triển vùng trồng lúa chất lượng cao, giảm phát thải, lúa hữu cơ, lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản.

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi phải gắn với hỗ trợ nông dân tìm đầu ra cho sản phẩm. Bởi nông dân chuyển đổi theo quy hoạch của địa phương, dù mô hình tốt nhưng bán không được sản phẩm hoặc không có giá thì bà con khó tin tưởng.

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/chuyen-doi-dat-lua-can-xu-ly-ton-du-hoa-chat-tu-dau-d807630.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Thế hệ tương lai

Thế hệ tương lai

Cá voi Bryde săn mồi trên biển Nhơn Lý

Cá voi Bryde săn mồi trên biển Nhơn Lý

Niềm vui bình dị

Niềm vui bình dị