Tâm huyết giữ nghề gia truyền
Mới đây, chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất giấy dó truyền thống ở làng Đống Cao (tổ dân phố Dương Ổ, phường Võ Cường). Giữa góc xưởng nhỏ thoang thoảng mùi vỏ dó, cô gái thế hệ 9X Ngô Thu Huyền đang đều tay xeo giấy bên bể bột.
Nhìn những động tác thành thục, lành nghề, ít người biết rằng, trước khi chọn về quê làm giấy, chị Thu Huyền từng có một công việc văn phòng ổn định. Nhưng chính ký ức tuổi thơ gắn với xưởng giấy của ông nội và những buổi trưa chơi đùa dưới nắng cùng những xấp giấy xốp nhẹ, dẻo dai đã thôi thúc cô gái trẻ quay về gắn bó với sợi dó, bột giấy và những tấm khung xeo...
![]() |
|
Chị Ngô Thu Huyền nối nghiệp ông nội, giữ nghề làm giấy dó thủ công truyền thống. |
Chị Huyền tâm sự: "Khi quyết định về quê làm giấy, tôi cũng băn khoăn lo lắng vì thấy rõ sự vất vả của nghề, hơn nữa bây giờ giấy dó ít được sử dụng nên khó có được thu nhập ổn định. Nhưng nghĩ nếu mình không làm thì bao tâm huyết, kiến thức, kinh nghiệm làm giấy của ông bà cũng sẽ mai một theo thời gian, thế nên năm 2017 tôi đã quyết định trở về...".
Để làm ra một tờ giấy dó phải trải qua quy trình rất phức tạp. Trước khi đun nấu, vỏ dó khô được ngâm trong nước cho mềm để dễ dàng xử lý. Sau 3 ngày ngâm nước, vỏ dó được lột từ gốc cho đến ngọn rồi buộc thành những bó nhỏ, dầm trong nước vôi, xếp vào thùng nấu đến khi chín mềm sẽ vớt ra rửa sạch vôi. Tiếp đến, vỏ dó được nhặt qua 2 lần gọi là nhặt vỡ và được ngâm khoảng 2 ngày rồi nhặt xeo. Sau đó ngâm trong nước khoảng 7 đến 10 ngày, tùy theo thời tiết để bỏ hết nhựa cây và chất vôi rồi cho vào bể nghiền nhỏ.
| Thời gian gần đây có nhiều người trẻ tổ chức và tham gia các sự kiện cộng đồng như hội chợ thủ công, triển lãm nghệ thuật đương đại, workshop làm giấy, talkshow… nhằm từng bước đưa giấy dó vào chuỗi giá trị sáng tạo. Nhờ vậy, giấy dó đang dần trở lại với đời sống không chỉ bởi chất lượng, độ bền qua hàng trăm năm mà còn bởi tính ứng dụng cùng những câu chuyện về con người, ký ức và bản sắc văn hóa... |
Công đoạn tráng giấy (xeo giấy) giữ vai trò quyết định tới hình thức của sản phẩm, đòi hỏi sự tập trung, khéo léo mới có thể điều chỉnh khuôn tráng sao cho tờ giấy được mịn đều. Giấy được tráng thành đống sẽ đưa vào đốn từ từ ép kiệt nước, có thể bóc từng lớp.
Cuối cùng là phơi giấy tại nơi thoáng gió, tránh ánh nắng quá gắt vì sẽ làm giấy bị co rúm. Giấy được can nhiều lớp trên tường hoặc các tấm gỗ phẳng để khi khô sẽ phẳng, mịn. Thời gian để làm từ vỏ cây ra tờ giấy dó mất khoảng 1 đến 1,5 tháng tùy theo điều kiện thời tiết...
Nếu ở làng giấy Đống Cao có cô gái 9X tâm huyết giữ nghề gia truyền thì ở thôn Vĩnh Ninh (trước là bản Khe Nghè, xã Lục Sơn), ông Dương Văn Quang, sinh năm 1967, người dân tộc Cao Lan cũng nặng lòng với vuông giấy dó của đồng bào mình. Chia sẻ về hành trình giữ nghề, nghệ nhân Dương Văn Quang cho biết: "Tôi được các bậc cao niên truyền rằng nghề giấy dó có từ lâu đời, lúc người Cao Lan bắt đầu đến vùng đất này sinh sống. Trước đây, hầu như gia đình nào cũng làm giấy nhưng nay cả làng chỉ có ba hộ còn làm nghề thường xuyên, trong đó có gia đình tôi".
Vừa giữ nghề, ông Quang vừa chủ động truyền dạy cho thế hệ trẻ. Khoảng hai năm gần đây, ông đã dạy nghề miễn phí cho hơn 50 học sinh trong vùng vào dịp hè. Theo ông Quang, học làm giấy không khó nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và kinh nghiệm tích lũy qua quá trình làm nghề. Các công đoạn đều làm thủ công, từ tước vỏ dó, ngâm, giã, pha chế bột giấy đến tráng giấy, phơi khô…, mỗi bước đều cần sự cẩn thận, tập trung vì nếu sơ sảy ở một khâu cũng có thể làm ảnh hưởng đến màu sắc, chất lượng giấy.
Hướng đi mới
Nguyên liệu làm giấy dó ở Khe Nghè chủ yếu lấy từ cây mọc tự nhiên trong rừng. Giấy thành phẩm có màu trắng ngà đặc trưng, không trắng tinh như giấy công nghiệp nhưng lại nổi bật bởi độ bền vượt thời gian. Ông Quang kể: Có những cuốn gia phả của các gia đình viết trên giấy dó từ hàng trăm năm trước, đến nay giấy có thể mỏng đi nhưng chữ vẫn còn rõ nét. Mực tàu viết trên giấy dó hầu như không phai. Đó là giá trị mà không loại giấy nào sánh được.
![]() |
|
Ông Dương Văn Quang giới thiệu sản phẩm giấy dó của đồng bào dân tộc Cao Lan tại Festival "Về miền di sản Bắc Ninh - 2026". |
Mặc dù sản phẩm giấy dó của người Cao Lan vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu tín ngưỡng và lưu giữ gia phả, thị trường hạn hẹp, mỗi năm bán được vài trăm tờ nhưng ông Quang vẫn kiên trì giữ nghề như một cách bảo tồn bản sắc văn hóa. "Tôi làm giấy không phải vì kinh tế mà để giữ nghề cha ông. Còn giữ được ngày nào thì quý ngày ấy. Cứ túc tắc làm lúc nông nhàn để khi bà con cần vẫn có giấy dùng" - ông Quang bộc bạch.
Ở Đống Cao, ký ức về một thời vàng son của nghề làm giấy dó cũng vẫn được người dân truyền kể. Ông Nguyễn Tiến Ngào, Bí thư Chi bộ tổ dân phố Dương Ổ chia sẻ: Từng có thời kỳ cả làng làm nghề vẫn không đủ giấy dó cung ứng cho thị trường khắp miền Bắc. Thế nhưng đến nay, cả làng chỉ còn 4-5 hộ duy trì sản xuất. Để làm ra tờ giấy dó tốn nhiều thời gian, nhiều công đoạn, quy trình phức tạp và phải có bí quyết gia truyền. Giấy dó sản xuất thủ công có độ bền, dai gấp nhiều lần so với loại giấy bình thường, có thể lưu giữ hàng trăm năm...
Trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu sử dụng thay đổi, người làm nghề buộc phải tìm thị trường mới. Theo chị Ngô Thu Huyền, tuy mức tiêu thụ không nhiều như trước nhưng giấy dó đang tìm được chỗ đứng trong các ngành nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ. Đầu ra sản phẩm giấy dó của gia đình chị Huyền khá ổn định, đa dạng với dòng giấy truyền thống, giấy chuyên dùng để phục vụ việc viết, vẽ tranh, làm thiệp, đồ trang trí phông nền, in kinh Phật, phục chế tài liệu...
Nguồn: https://baobacninhtv.vn/chuyen-nghe-ben-vuong-giay-do-postid443593.bbg








Bình luận (0)