Nâng chất giống đậu nành nội
Từng là cây trồng quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam, nhưng diện tích đậu nành trong nước đang giảm mạnh qua từng năm. Theo số liệu từ Cục Thống kê, nếu năm 2010, cả nước có khoảng 200.000ha đậu nành thì đến năm 2025 chỉ còn khoảng 20.000ha, tức giảm tới 90%.
Trái ngược với sự thu hẹp của vùng trồng trong nước, lượng đậu nành nhập khẩu lại tăng nhanh qua từng năm. Năm 2010, Việt Nam nhập khẩu khoảng 270.000 tấn đậu nành thì đến năm 2025 đã tăng lên khoảng 1,5 - 2 triệu tấn. Điều đó cho thấy nhu cầu sử dụng đậu nành tại Việt Nam ngày càng lớn.
Hiện nay diện tích trồng đậu nành ở Việt Nam khoảng 20.000ha. Ảnh: Lê Khánh.
Phần lớn đậu nành nhập khẩu hiện nay phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng đậu nành làm thực phẩm cũng không nhỏ, trong khi nguồn nguyên liệu trong nước chưa đáp ứng được. Một trong những nguyên nhân khiến cây đậu nành dần mất lợi thế là do năng suất các giống bản địa thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao nên người dân chuyển sang những cây trồng khác.
Trong khi đó, đậu nành lại là loại cây có nhiều giá trị, đặc biệt đối với nền nông nghiệp xanh và bền vững. Ngoài hạt có hàm lượng dinh dưỡng cao, cây đậu nành còn được ví như “nhà máy đạm tự nhiên”. Dưới bộ rễ của cây có các nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm, giúp cải tạo đất, tăng độ màu mỡ và giảm lượng phân bón hóa học.
Trong bối cảnh nông nghiệp hiện đại hướng đến giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững, cây đậu nành cùng các loại cây họ đậu ngày càng được xem là mắt xích quan trọng trong cơ cấu cây trồng. Xuất phát từ thực tế đó, năm 2013, nhà máy sữa đậu nành Vinasoy thành lập Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành Vinasoy (VSAC) nhằm tập trung nghiên cứu, phục tráng và chọn tạo các giống đậu nành mới phù hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam phục vụ chế biến thực phẩm.
Công nghệ di truyền phân tử trên hệ thống Real-time PCR giúp rút ngắn thời gian chọn tạo giống đậu nành mới. Ảnh: Lê Khánh.
Đến năm 2014, Trung tâm bắt đầu triển khai chương trình chọn tạo giống bằng công nghệ hiện đại. Chỉ sau hơn 4 năm, đơn vị đã nghiên cứu thành công và được công nhận giống đậu nành đầu tiên mang tên VINASOY 02-NS. Đây được xem là bước tiến lớn bởi trước đây, quá trình nghiên cứu và chọn tạo một giống mới có thể mất 8 - 10 năm.
TS Lê Hoàng Duy, Giám đốc Trung tâm cho biết, để rút ngắn thời gian nghiên cứu, Trung tâm đã ứng dụng công nghệ di truyền phân tử trên hệ thống Real-time PCR để xác nhận con lai ngay từ giai đoạn đầu. Sau khi tạo hạt lai và đem gieo trồng, khoảng 10 - 20 ngày sau sẽ lấy mẫu lá để phân tích DNA, xác định chính xác cây lai đạt yêu cầu hay không. Công nghệ này giúp sàng lọc nhanh, tăng độ chính xác và rút ngắn đáng kể thời gian chọn tạo giống.
Không chỉ hướng tới năng suất cao, các giống đậu nành mới còn được nghiên cứu theo hướng chống chịu sâu bệnh tốt, thích nghi nhiều vùng sinh thái và phù hợp chế biến sản phẩm sữa đậu nành. Đặc biệt, Vinasoy chọn định hướng phát triển giống đậu nành bản địa không biến đổi gen tương tự mô hình phát triển của Nhật Bản, tập trung phục vụ ngành thực phẩm thay vì chủ yếu làm thức ăn chăn nuôi.
Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành Vinasoy tập trung nghiên cứu, phục tráng và chọn tạo các giống đậu nành mới phù hợp điều kiện sản xuất tại Việt Nam phục vụ chế biến thực phẩm. Ảnh: Lê Khánh.
Để phục vụ công tác nghiên cứu, Trung tâm đã xây dựng ngân hàng nguồn gen với khoảng 2.500 dòng/giống khác nhau, bao gồm nguồn giống trong nước và thu thập từ nước ngoài. Toàn bộ đều là giống không biến đổi gen. Đây được xem là “kho dữ liệu di truyền” quan trọng để các nhà khoa học chọn lọc những đặc tính ưu tú làm vật liệu bố mẹ phục vụ lai tạo giống mới.
Sau VINASOY 02-NS, Trung tâm tiếp tục nghiên cứu nhiều giống chuyên biệt hơn như VINASOY 06-HI với hàm lượng Isoflavones cao gấp 2 - 4 lần đậu nành thông thường. Nhiều giống mới có tỷ lệ omega 3-6-9 phù hợp và các hợp chất có lợi cho sức khỏe cao hơn cũng đang được nghiên cứu, bảo hộ giống.
Canh tác bền vững vùng nguyên liệu
Không dừng lại ở nghiên cứu giống, Vinasoy đang hướng tới xây dựng chuỗi đậu nành khép kín từ chọn tạo giống đến chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nông dân để xây dựng vùng nguyên liệu. Sau khi chọn tạo thành công giống mới, doanh nghiệp tiến hành khảo nghiệm để xác định vùng sinh thái phù hợp, đồng thời nghiên cứu quy trình canh tác gắn với cơ giới hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trước khi chuyển giao cho người dân.
Vùng nguyên liệu đậu nành lớn hiện nay của Vinasoy là khu vực Cư Jút (Lâm Đồng) với diện tích hàng năm khoảng 200 - 300ha. Ảnh: L.K.
Hiện nay, vùng giống và nguyên liệu đậu nành của Vinasoy đã phân bố tại nhiều khu vực trên cả nước như miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam với các thời vụ sản xuất gối đầu nhau.
Theo TS Lê Hoàng Duy, cây đậu nành rất nhạy cảm với quang kỳ ánh sáng nên nhiều giống chỉ phù hợp tại một số vùng nhất định. Đây cũng là lý do việc chọn tạo giống thích nghi rộng có ý nghĩa rất quan trọng.
Giống đậu nành VINASOY 02-NS do Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành Vinasoy nghiên cứu cho thấy khả năng thích ứng tốt ở nhiều vùng miền nếu đi kèm quy trình kỹ thuật phù hợp. Đây là một trong những thành quả nổi bật của chương trình chọn giống bằng công nghệ hiện đại.
Một trong những vùng nguyên liệu lớn hiện nay của Vinasoy là khu vực Cư Jút (Lâm Đồng), nơi có tiềm năng phát triển khoảng 1.000ha đậu nành. Hiện doanh nghiệp đang liên kết với nông dân sản xuất khoảng 200 - 300ha mỗi năm.
Các mô hình liên kết trồng giống đậu nành của Vinasoy với nông dân cho năng suất gấp 2 lần so với giống bản địa. Ảnh: Lê Khánh.
Trong vụ 1 năm 2025, năng suất bình quân của giống VINASOY 02-NS đã đạt khoảng 2,6 tấn/ha, nhiều hộ đạt tới 3,5 tấn/ha. Đây là năng suất rất cao đối với cây đậu nành, nhất là khi nhiều giống bản địa trước đây chỉ đạt mức cao nhất khoảng 1,6 tấn/ha.
Tại khu vực Cư Jút, cây đậu nành được canh tác luân canh với các loại cây như khoai lang, đậu phộng. Mô hình này giúp cải tạo đất, hạn chế sâu bệnh, giảm chi phí phân bón và tăng năng suất cho cây trồng ở vụ sau. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế nông nghiệp bền vững hiện nay.
Không chỉ ở Tây Nguyên, Vinasoy cũng đang thúc đẩy nghiên cứu mô hình luân canh đậu nành với lúa. Nhiều địa phương ở ĐBSCL, việc sản xuất liên tục 3 vụ lúa không còn mang lại hiệu quả cao. Một số hộ dân hiện chỉ làm 2 vụ rồi bỏ đất trống. Đây là khoảng thời gian rất phù hợp để đưa cây đậu nành vào sản xuất.
Ngoài năng suất, giống đậu nành VINASOY 02-NS còn cho thấy khả năng thích ứng tốt ở nhiều vùng miền. Ảnh: Lê Khánh.
Việc trồng đậu nành xen giữa các vụ lúa không chỉ giúp tiết kiệm nước tưới, cắt mầm bệnh mà còn tăng lượng hữu cơ cho đất nhờ khả năng cố định đạm tự nhiên. Ở miền Bắc, cây đậu nành từng được trồng phổ biến trong vụ đông nhưng dần mai một. Hiện nay Vinasoy đang phối hợp với các trung tâm, viện nghiên cứu về nông nghiệp, giống cây trồng để từng bước khôi phục lại vùng sản xuất này.
“Mục tiêu lâu dài của chúng tôi không chỉ là mở rộng diện tích vùng trồng đậu nành mà còn góp phần tạo tác động tích cực đến chính sách phát triển ngành đậu nành Việt Nam trong tương lai. Đơn vị rất mong đồng hành cùng các cơ quan nghiên cứu, ngành nông nghiệp và địa phương để từng bước vực dậy cây đậu nành Việt”, TS Lê Hoàng Duy chia sẻ.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/cong-nghe-mo-duong-hoi-sinh-cay-dau-nanh-viet-d811782.html









Bình luận (0)