Nghị định 66 được ban hành tiếp tục khẳng định mục tiêu nhân văn bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục cho trẻ em khu vực còn nhiều khó khăn.
Cốt lõi của Nghị định 66 nằm ở việc hỗ trợ trực tiếp để học sinh yên tâm ăn ở, học tập tại trường. Mỗi học sinh thuộc diện thụ hưởng được hỗ trợ 936.000 đồng tiền ăn mỗi tháng, 15 kg gạo, cùng tiền thuê trọ trong trường hợp nhà trường không thể bố trí chỗ ở. Ngoài ra, còn được cấp đồ dùng cá nhân, học phẩm thiết yếu, bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho học sinh học xa nhà. Các cơ sở giáo dục cũng được cấp kinh phí tổ chức nấu ăn, quản lý học sinh bán trú, qua đó tạo nền tảng duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng dạy học.
![]() |
| Không đủ điều kiện về khoảng cách địa lý để được hưởng chế độ bán trú, nhiều học sinh ở xã Bình Xa vẫn phải lặn lội đi - về 4 lượt mỗi ngày. |
Theo Nghị định 66, khoảng cách để xác định học sinh bán trú được quy định ở các mốc: Nhà ở xa trường từ 4 km trở lên đối với học sinh tiểu học, 7 km đối với học sinh THCS và 10 km đối với học sinh THPT. Đồng thời, Nghị định cũng mở ra độ linh hoạt khi cho phép xem xét các trường hợp địa hình cách trở, giao thông đặc biệt khó khăn như phải qua sông, suối, đèo dốc, vùng sạt lở… dù chưa đạt ngưỡng số km.
Từ khung chính sách đó, ngày 24-9-2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định 87 “quy định khoảng cách, địa bàn làm căn cứ xác định học sinh, học viên không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày; danh mục trang cấp đồ dùng cá nhân, học phẩm cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, cơ sở giáo dục phổ thông được cấp có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”. Theo đó, tỉnh chủ động “hạ ngưỡng” khoảng cách xuống còn 2 km đối với học sinh tiểu học, 3 km đối với THCS và 5 km đối với THPT. So với mức 4 - 7 - 10 km của Trung ương, đây là bước điều chỉnh mang tính thực tiễn cao, giúp chính sách tiệm cận sát hơn với điều kiện đi lại thực tế ở miền núi, nơi mỗi cây số không chỉ đo bằng chiều dài địa lý mà còn bằng độ dốc, sự chia cắt và những rủi ro trên đường đến lớp.
Áp lực kép
Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 692 cơ sở giáo dục phổ thông với gần 500.000 học sinh. Trong đó, 35.279 học sinh tại 227 trường phổ thông dân tộc bán trú đã và đang thụ hưởng chính sách theo Nghị định 66. Riêng học kỳ I, có tới 104.665 học sinh được hỗ trợ hơn 6.300 tấn gạo và 398 tỷ đồng tiền ăn, thuê trọ. Đây là nguồn lực lớn góp phần giữ vững sĩ số, giảm gánh nặng mưu sinh cho nhiều gia đình vùng cao.
Tuy nhiên, khi chính sách đi vào triển khai đồng bộ với các tiêu chí cụ thể, khó khăn bắt đầu bộc lộ: Những “mốc cứng” về khoảng cách và địa bàn, dù cần thiết để bảo đảm minh bạch, lại khó bao quát hết điều kiện đi lại đặc thù của miền núi. Thầy Trần Minh Tuyên, Hiệu trưởng Trường PTDTBT THCS Yên Lâm (xã Yên Phú) cho biết: Đầu năm học, nhà trường có 98 học sinh được hưởng chế độ theo Nghị định 66. Tuy nhiên, sau khi triển khai Quyết định số 50, ngày 9-1-2026 của UBND tỉnh về “phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III, giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”, phần lớn học sinh bán trú của trường không còn thuộc các thôn đặc biệt khó khăn, kéo theo việc học sinh tại đây không còn đủ điều kiện thụ hưởng các chính sách hỗ trợ theo Nghị định 66. Qua rà soát, nhà trường chỉ còn 4 học sinh đủ tiêu chuẩn hưởng chế độ bán trú.
![]() |
| Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn 6 Minh Tiến, xã Bình Xa Hoàng Thị Thương (thứ 2 từ phải qua trái) đến từng nhà vận động phụ huynh cho học sinh đến lớp. |
Trường PTDTBT TH&THCS Minh Tiến (xã Bình Xa) có 98,4% học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Mông chiếm 44,4% tổng số học sinh toàn trường. Thầy Lê Trọng Giang, Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Đầu năm học mới, toàn trường có 211 học sinh bán trú, chiếm 22,4% tổng số học sinh. Thế nhưng, sau khi đối chiếu “khoảng cách” và tiêu chí “thoát nghèo”, danh sách giảm xuống chỉ còn 47 em được hưởng chế độ, chính sách bán trú (chiếm 5%).
Giữa những triền dốc hun hút, thôn 6 Minh Tiến (xã Bình Xa) là nơi quần tụ của 154 hộ đồng bào Mông, chiếm hơn 65% dân số toàn thôn. Toàn bộ các hộ người Mông đều thuộc diện nghèo và cận nghèo. Áp lực thêm lớn khi 100 học sinh tiểu học của thôn không còn nằm trong diện thụ hưởng bán trú. Chị Thào Thị Trang ngậm ngùi: “Chỉ riêng đầu năm học, gia đình đã phải xoay xở vay mượn gần 1 triệu đồng để lo sách vở, đồ dùng học tập cho 2 con - một khoản không nhỏ với người làm nương”. Còn chị Hạng Thị Dín cho biết: “Vợ chồng đi từ sáng sớm đến tối mịt, không có thời gian đưa đón nên 3 con nhỏ chỉ biết tự dắt nhau đi bộ đến trường. Có lần con về nhà, ngủ trưa quên cả giờ đến lớp”.
Không để ai bị bỏ lại phía sau
Những điều chưa hợp lý trong triển khai chính sách đang tạo áp lực lớn trong sự nghiệp trồng người. Thực tế đã chứng minh, tỷ lệ chuyên cần trượt dốc, những quãng đường đến lớp thêm dài và những bữa ăn bán trú dần vắng bóng, tất cả đang đặt ra một câu hỏi lớn về khả năng giữ chân học sinh. Trong bối cảnh ấy, yêu cầu cấp thiết không chỉ là thực thi chính sách, mà là kịp thời bù đắp những khoảng trống, để không một học sinh nào bị bỏ lại phía sau trên hành trình đi tìm con chữ.
Tại Trường PTDTBT TH&THCS Minh Tiến, tỷ lệ chuyên cần giảm qua từng giai đoạn: Từ mức 96,8% (giữa tháng 9/2025), giảm xuống 95,7% (cuối tháng 10) và chạm mức 94,7% ở thời điểm hiện tại. Trung bình mỗi ngày, có tới 50 khoảng trống trên ghế nhà trường. Đường cong đi xuống ấy không đơn thuần là những con số, mà là tín hiệu cảnh báo về nguy cơ đứt gãy việc học.
Nguyên nhân khiến học sinh nghỉ học một phần do mất điểm tựa chính sách bán trú, một phần nằm sâu trong những khó khăn cố hữu: Bố mẹ mưu sinh không có thời gian đưa đón; trẻ nhỏ phải theo người lớn lên nương; nhận thức giáo dục còn hạn chế hay đơn giản là những bước chân non nớt không đủ sức vượt dốc mỗi ngày. Để giữ chân học trò tại Bình Xa, tổ vận động học sinh ra lớp do Phó Chủ tịch UBND xã làm Tổ trưởng được thành lập với sự tham gia của giáo viên, trưởng thôn bản, đại diện các đoàn thể địa phương. Tại các trường học, không chỉ dạy chữ, thầy cô còn phải “giữ lớp”, thậm chí trở thành người đưa đón học sinh. Có những giáo viên như thầy Đào Ngọc Di, Trường PTDTBT TH&THCS Minh Tiến lặng lẽ miễn phí đưa - đón mỗi ngày chỉ để học trò không bỏ học giữa chừng.
Ở Trường PTDTBT THCS Yên Lâm, để duy trì sĩ số, nhà trường buộc phải tính đến phương án xã hội hóa bữa ăn bán trú. Mức đóng góp tối thiểu khoảng 878.600 đồng/học sinh/tháng (chưa tính ăn sáng), nếu tự túc gạo thì giảm còn 776.000 đồng, con số không nhỏ với nhiều gia đình. Dù vậy, chỉ có 23 em có thể đăng ký ở lại trường; số còn lại do gia đình không đủ điều kiện kinh tế, buộc phải chọn cách đi về trong ngày, đối mặt với nguy cơ mất an toàn và gián đoạn học tập.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Yên Phú Nguyễn Văn Ước: “Toàn xã có hơn 500 học sinh bị tác động khi không còn thuộc diện thụ hưởng chính sách bán trú, trong đó riêng bậc mầm non đã hơn 400 cháu. Trước mắt, địa phương có thể vận động xã hội hóa lo được gạo, vận động thêm rau củ, chất đốt từ người dân, nhưng về lâu dài, đây không phải là giải pháp bền vững”.
Xuất phát từ thực tiễn ấy, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bùi Quang Trí cho biết: “Sở đã tham mưu UBND tỉnh để đề nghị ban hành Nghị quyết HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, học sinh thuộc hộ nghèo, không thuộc đối tượng hưởng theo Nghị định 66 của Chính phủ”. Đề xuất này không chỉ mang ý nghĩa bổ sung chính sách, mà còn thể hiện tư duy quản lý linh hoạt, sát thực tiễn. Khi khung chính sách chung chưa thể bao quát hết thì chính nguồn lực địa phương sẽ trở thành “nhịp đệm” quan trọng để lấp đầy khoảng trống.
Hành trình gieo chữ nơi rẻo cao còn nhiều dốc đứng, nhưng nếu chính sách đủ linh hoạt, đủ nhân văn, thì sẽ không có giấc mơ nào phải dừng lại giữa chừng chỉ vì một quãng đường đến lớp.
Bài, ảnh: Thu Phương
Đảm bảo không học sinh nào bị bỏ lại phía sau
![]() |
| Bà Vũ Thị Giang Phó Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND tỉnh |
Tại Kỳ họp thứ Nhất, HĐND tỉnh Tuyên Quang khóa XX, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã xem xét, thảo luận và thông qua Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đối với học sinh đang học bán trú, học sinh thuộc hộ nghèo không thuộc đối tượng hưởng theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP của Chính phủ tại các cơ sở giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh.
Đây là chính sách rất nhân văn, được HĐND tỉnh quyết nghị ngay tại Kỳ họp thứ Nhất, kịp thời bổ sung hỗ trợ cho học sinh chưa thuộc diện hưởng theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP để đảm bảo không em nào bị bỏ lại phía sau. Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của tỉnh đối với học sinh thuộc hộ nghèo, học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn; giúp các em yên tâm học tập, giảm gánh nặng cho gia đình, duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường học vùng khó khăn; góp phần thực hiện tốt mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
Chủ động hỗ trợ học sinh
![]() |
| Bà Phạm Thị Hà Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THPT Hà Giang |
Qua theo dõi tình hình thực tế, tôi nhận thấy đội ngũ giáo viên, đặc biệt là trường phổ thông dân tộc nội trú, không chỉ làm nhiệm vụ giảng dạy mà còn đảm nhận thêm nhiều công việc ngoài chuyên môn để duy trì sĩ số, giữ chân học sinh. Những trường hợp học sinh không đủ điều kiện hưởng chế độ bán trú do vướng quy định về khoảng cách, các em buộc phải đi về trong ngày, trong khi điều kiện đi lại rất khó khăn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn.
Trước thực tế đó, nhiều thầy cô đã chủ động hỗ trợ học sinh bằng cách như đưa đón qua những đoạn đường nguy hiểm, trông nom buổi trưa, đến nhà vận động các em ra lớp, nhất là những trường hợp có nguy cơ bỏ học. Đồng thời, giáo viên còn kết nối, kêu gọi hỗ trợ sách vở, quần áo, đồ dùng học tập, giúp giảm bớt khó khăn cho học sinh; tranh thủ thời gian kèm thêm ngoài giờ, phụ đạo miễn phí cho các em học yếu hoặc nghỉ học do điều kiện đi lại.
Tôi cho rằng, để giảm tải cho giáo viên và bảo đảm quyền học tập của học sinh, cần có sự điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thực hiện chính sách. Bên cạnh tiêu chí về khoảng cách, nên xem xét thêm các yếu tố như điều kiện đi lại, hoàn cảnh gia đình và đặc thù địa hình. Đồng thời, cần trao quyền chủ động hơn cho nhà trường và địa phương trong việc rà soát, đề xuất các trường hợp thực sự khó khăn.
Mong muốn có chỗ ở nội trú
![]() |
| Em Nguyễn Bảo Khánh Lớp 6A, Trường PTDTBT Tiểu học và THCS Năng Khả |
Nhà em cách trường hơn 4 km, nhiều khi mưa bão việc đi học khá vất vả thường xuyên làm gián đoạn việc học. Em mong một ngôi trường có chỗ ở nội trú để mỗi khi thời tiết bất thường, em được ở lại, không phải đi lại vất vả, gia đình cũng yên tâm hơn. Hiện nay, ngày em đi về 2 lượt cũng khá vất vả trong việc học tập nhưng dù đường có xa, cuộc sống của gia đình còn nhiều khó khăn nhưng em vẫn quyết tâm học tập để trở thành con ngoan, trò giỏi, công dân có ích cho xã hội.
Xem xét đối tượng đặc thù
![]() |
| Anh Lê Đức Anh Thôn Đồng Trang, xã Hùng Lợi |
Nhà tôi nằm nép lưng chừng đồi, trong một bản nhỏ chủ yếu là đồng bào người Mông sinh sống. Tính từ nhà đến trường của cháu chỉ tầm 1,5 km. Nghe thì gần, nhưng đường mòn thôn bản miền núi ngoằn ngoèo, toàn dốc ngược rất khó đi. Ở đây bà con quen đi bộ, vợ chồng tôi cũng không biết chạy xe máy nên việc đưa đón con không dễ dàng gì. Vì chưa đủ khoảng cách 2 km để được hỗ trợ bán trú, trưa nào cháu cũng lóc cóc đi bộ về. Ở bản vùng cao, bố mẹ thường đi làm nương từ sáng sớm, nhiều hôm dở việc không về kịp. Cháu lại phải ăn cơm nhờ nhà hàng xóm. Thương con những trưa hè nắng nóng hay ngày mưa gió trơn trượt, đi bộ về nhà rã rời nên buổi chiều đến lớp cũng khá mệt mỏi, khó tập trung được. Chính sách của tỉnh nhà rất quan tâm đến bà con nhưng chúng tôi chỉ mong các cấp có thể linh động xét thêm địa hình thôn bản vùng cao để con em đồng bào dân tộc thiểu số được yên tâm học tập và thuận lợi đến trường.
Nguồn: https://baotuyenquang.com.vn/van-hoa/giao-duc/202604/de-hoc-tro-yen-tam-bam-lop-e7c6f24/












Bình luận (0)