Quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt
Nghị quyết số 06-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XV nhằm thực hiện khâu đột phá về phát triển văn hóa giàu bản sắc Quảng Ninh gắn với thu hẹp nhanh khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch vùng miền trong tỉnh. Nghị quyết tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của tỉnh trong chỉ đạo thực hiện các chính sách dân tộc và đầu tư phát triển đối với vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới”.
Với định hướng đó, Nghị quyết số 06-NQ/TU đã xác định rõ các nhóm giải pháp trọng tâm, gồm: Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư; tổ chức lại sản xuất vùng DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa; lấy công nghiệp, dịch vụ thúc đẩy nông nghiệp, lấy đô thị dẫn dắt nông thôn; phát triển hạ tầng KT-XH đồng bộ, hiện đại, liên thông, tổng thể. Đồng thời tập trung thực hiện tốt chính sách an sinh, nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; tăng cường xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân... Khi gắn với thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu cao hơn so với bình quân chung của cả nước, thể hiện sự chủ động, sáng tạo, đột phá, phù hợp với yêu cầu, tình hình thực tiễn của tỉnh.
Ngay sau khi Nghị quyết số 06-NQ/TU được ban hành, để đảm bảo các nội dung nghị quyết đi sâu vào thực tiễn đời sống, phát huy hiệu quả cao nhất, ngày 20/7/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức hội nghị quán triệt trực tiếp tới đội ngũ cán bộ chủ chốt và chỉ đạo phổ biến sâu rộng đến từng chi bộ. Trên cơ sở đó, cả hệ thống chính trị đã khẩn trương vào cuộc triển khai nhiệm vụ một cách quyết liệt, thông qua loạt các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch được HĐND tỉnh, UBND tỉnh ban hành.
Các sở, ngành, địa phương của tỉnh cũng đã hết sức khẩn trương bám sát vào nội dung, chỉ tiêu đã được xác định tại Nghị quyết số 06-NQ/TU, chủ động xây dựng kế hoạch theo lĩnh vực, ngành mình phụ trách cho phù hợp, sát thực tiễn; phát huy vai trò đội ngũ cán bộ nòng cốt trong triển khai chính sách ở cơ sở. Đồng thời, hệ thống MTTQ và các tổ chức CT-XH các cấp trong tỉnh cũng hết sức chủ động tham gia phối hợp tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách, các nội dung, tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ cụ thể hóa Nghị quyết số 06-NQ/TU tại cơ sở. Đặc biệt là gắn với triển khai các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi trong đoàn viên, hội viên, nhân dân; cổ vũ tinh thần chủ thể, sáng tạo thông qua các mô hình, công trình, phần việc thiết thực, thu hút cộng đồng xã hội cùng quan tâm, hưởng ứng.
Ngay sau năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU, Tỉnh ủy đã tổ chức hội nghị tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các cấp ủy địa phương, các sở, ban, ngành, đoàn thể, nhằm mục tiêu nâng cao hơn nữa hiệu quả các cơ chế, chính sách. Nhiều nhóm nội dung công việc cụ thể tại cơ sở đã được đưa ra thảo luận, phân tích đa chiều, cặn kẽ, như: Công tác tuyên truyền, vận động, tập huấn, phát huy vai trò nòng cốt của đội ngũ cán bộ ở cấp xã và từng thôn, bản... trong triển khai chính sách tới người dân; việc đầu tư phân bổ nguồn lực, xây dựng hạ tầng phát triển KT-XH tại các xã vùng sâu, vùng xa; hạ tầng viễn thông tại các xã vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới. Cùng với đó là thảo luận về những vướng mắc, khó khăn, kinh nghiệm sáng tạo trong vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, kết nối tiêu thụ nông sản, tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập; quan tâm đào tạo nghề cho lao động trẻ để chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu nông thôn; ủy thác qua Ngân hàng CSXH để cho vay vốn sản xuất... Đặc biệt, tỉnh tiếp tục quán triệt chủ trương về đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, giảm dần đầu tư trực tiếp từ ngân sách, tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa; mạnh dạn phân cấp, giao quyền tự chủ và trách nhiệm cho các địa phương.
Khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo
Để cụ thể hóa Nghị quyết số 06-NQ/TU, tại kỳ họp thứ 2, HĐND tỉnh khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 16/2021/NQ-HĐND (ngày 16/7/2021) “Phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển bền vững KT-XH gắn với bảo đảm vững chắc QP-AN ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030”. Nội dung quyết nghị bao gồm việc xác định phải phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có của các vùng, miền; phân bổ và sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực; tăng cường huy động, thu hút, xã hội hóa các nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh, bền vững. Nhất là việc sử dụng ngân sách Nhà nước là “vốn mồi” có ý nghĩa quyết định để huy động các nguồn lực khác; ưu tiên hợp lý nguồn vốn đầu tư công phù hợp với khả năng cân đối với ngân sách địa phương để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung đầu tư các dự án, công trình thực sự cấp bách, thiết yếu về y tế, giáo dục, hạ tầng giao thông...
Khi đã có sự thống nhất cao, quá trình thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU trong 5 năm qua liên tục được Quảng Ninh cụ thể hóa bằng nhiều cách làm sáng tạo, thúc đẩy những chuyển biến rất rõ nét trong thực tế. Bao gồm nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức phát triển sản xuất kinh doanh trong vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo. Đồng thời phát triển KT-XH ngày càng được gắn liền với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường tiềm lực và đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh...
Một trong những chủ trương lớn được các địa phương triển khai hiệu quả những năm qua là khuyến khích phát triển lâm nghiệp bền vững. Nhất là chú trọng giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng cho các hộ, cộng đồng, doanh nghiệp; định hướng vừa nâng cao chất lượng rừng, vừa tăng giá trị kinh tế trên từng đơn vị diện tích rừng. Nhờ đó, người dân có sinh kế ổn định từ rừng, nhiều mô hình kinh tế rừng hiệu quả được nhân rộng như trồng quế, hồi, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng dưới tán rừng... Toàn tỉnh có tổng số 144 cơ sở giống cây lâm nghiệp, trong 5 năm qua đã cung cấp cho trên 462 triệu cây giống lâm nghiệp các loại. Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã thu 678 tỷ đồng từ các dự án, công trình thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế để giải ngân 124 tỷ đồng cho công tác trồng rừng. Nhờ đó đến nay, Quảng Ninh đã có 7 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích trên 30.000ha (tăng gần 5.000ha so với năm 2020); tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 45,5%. Giữa các hoạt động quản lý sử dụng rừng - trồng rừng - khai thác, chế biến lâm sản, với công tác quản lý, bảo vệ rừng, chống tàn phá rừng... đã có sự gắn kết chặt chẽ, hiệu quả, ngày càng có tính bền vững cao.
Không chỉ trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều địa phương triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU với tinh thần chủ động, sáng tạo, đã khá thành công trong việc tổ chức lại sản xuất vùng DTTS, miền núi, gia tăng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Nhất là trong việc phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa; lấy công nghiệp, dịch vụ thúc đẩy nông nghiệp, lấy đô thị dẫn dắt nông thôn. Cụ thể bằng việc thường xuyên nắm bắt, trao đổi với doanh nghiệp, tổ chức các cuộc làm việc với các doanh nghiệp đến nghiên cứu địa điểm đầu tư, quan tâm chỉ đạo tập trung hỗ trợ, giải quyết vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp trên địa bàn. Từ lợi thế nông nghiệp, nhiều vùng sản xuất chuyên canh, quy mô lớn được hình thành; gắn với phát triển trồng trọt, chăn nuôi tập trung ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, mang lại giá trị kinh tế cao.
Đơn cử như tại các xã Ba Chẽ, Bình Liêu, Hoành Mô, Quảng Tân, đặc khu Vân Đồn, Cô Tô... sự đổi mới không chỉ hiện diện trong diện mạo đời sống dân cư ngày càng khấm khá, mà quan trọng là ở trong tư duy, hành động của đại bộ phận người dân những địa phương này. Những tuyến đường huyết mạch được đầu tư mở rộng, điện lưới được đảm bảo phục vụ sản xuất... là điều kiện để nhiều nhà xưởng, trang trại mọc lên. Tư duy sản xuất hàng hóa, liên kết tiêu thụ sản phẩm OCOP (miến dong, trà hoa vàng, chè, gạo bao thai, dược liệu, thịt gà...) đã bén rễ sâu vào nhận thức của người dân, thay thế dần tập quán canh tác nhỏ lẻ, tự cung tự cấp trước kia. Ngay từ những cuộc họp thôn, họp bản cũng dần không còn xoay quanh việc trợ cấp, giúp đỡ, mà chủ yếu bàn chuyện phát triển kinh tế hợp tác xã, liên kết tiêu thụ nông sản, bảo tồn văn hóa, xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu...
Những chuyển động tích cực trong vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo của Quảng Ninh còn được nhân lên nhờ có vai trò của MTTQ và các tổ chức CT-XH. Nhất là trong việc tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, nhân dân thay đổi tư duy trông chờ, ỷ lại, xóa bỏ dần hủ tục lạc hậu, ngày càng hưởng ứng tham gia tích cực hơn trong các phong trào xây dựng đời sống mới. Tiêu biểu như việc người dân đồng thuận cao với các chủ trương vận động hiến đất, hiến hoa màu, vật kiến trúc để GPMB phục vụ các công trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Còn phải kể đến những phong trào Bình dân học vụ số thu hút đông đảo người dân quan tâm, giúp các chương trình chuyển đổi số toàn diện lan tỏa nhanh chóng trong cộng đồng. Hay như nhiều giá trị văn hóa truyền thống (lễ hội, nghề thủ công, trang phục, ẩm thực...) của đồng bào Dao, Sán Chỉ, Tày, Sán Dìu... đã được khôi phục, gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm, trở thành nguồn sinh kế mới và bền vững.
Nỗ lực rút ngắn chênh lệch vùng miền
5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU cũng là giai đoạn đầy khó khăn của tỉnh trước những tác động lớn của đại dịch Covid-19, diễn biến bất thường của thiên tai, dịch bệnh. Tuy nhiên, Quảng Ninh đã cho thấy sự đoàn kết, thống nhất, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, linh hoạt từ các cấp, ngành, cơ quan, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Từ đó đã thành công trong các chiến lược thích ứng an toàn, giữ vững địa bàn ổn định, phát triển trong trạng thái bình thường mới và đạt nhiều kết quả tích cực trong nỗ lực rút ngắn chênh lệch vùng miền, nâng cao toàn diện chất lượng đời sống của nhân dân.
Giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh đã huy động hơn 120.000 tỷ đồng để triển khai các chương trình phát triển vùng khó, trong đó vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 16%, còn lại là xã hội hóa và tín dụng chính sách. Điều đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 16% nhưng đã kích hoạt mạnh mẽ nguồn lực xã hội hóa và tín dụng chính sách. Nhờ đó, các dự án hạ tầng giao thông động lực, kết nối liên vùng và nội vùng; hạ tầng giáo dục, y tế, văn hóa, thủy lợi... đã nhanh chóng được đầu tư, hoàn thiện, đưa vào khai thác, phát huy hiệu quả. Đến nay 100% xã vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hóa, bê tông hóa; 100% các tuyến đường từ trung tâm xã đến các thôn, bản được bê tông hóa theo tiêu chí NTM; 100% số hộ dân ở các xã, thôn được sử dụng điện lưới quốc gia...
Những năm qua, từ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, đến chính sách thu hút bác sĩ trẻ về cơ sở, ngành Y tế đã từng bước khắc phục khó khăn, mang dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng đến gần hơn với đồng bào nơi xa xôi nhất. Nhất là trong việc ưu tiên nguồn lực đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế, đồng thời đưa các kỹ thuật mới về cơ sở, có chính sách thu hút bổ sung các bác sĩ giỏi từ cấp tỉnh về tăng cường nguồn nhân lực cho y tế tuyến xã... Các đơn vị như Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bãi Cháy, Sản Nhi, Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí... trực tiếp hỗ trợ chuyên môn cho các trung tâm y tế miền núi, hải đảo. Trung bình mỗi năm, các bệnh viện tuyến trên thực hiện trên 150 lượt chỉ đạo tuyến, kèm cặp, hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới. Nhờ đó, hàng ngàn ca bệnh trước đây phải chuyển lên tuyến trên, nay đã được xử lý ngay tại địa phương.
Trong giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh bố trí hơn 3.291 tỷ đồng cho giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp, gấp 2,3 lần so với giai đoạn trước. Trong đó, hơn 2.626 tỷ đồng dành riêng cho xây dựng, nâng cấp trường lớp, nhất là tại các xã miền núi, vùng đồng bào DTTS. Với nguồn lực to lớn này, đến nay, toàn bộ trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú đã được kiên cố hóa, an toàn và tiện nghi. Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia là 92,07%, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 95,8%. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tại địa phương vùng khó như: Ba Chẽ, Kỳ Thượng, Lương Minh và đặc khu Cô Tô… đạt 100%. Nhiều trường được xây mới, sửa chữa, đưa vào sử dụng như: Tiểu học Ba Chẽ, TH&THCS Tiên Yên, THPT Quảng La, THPT Quảng Hà, Tiểu học Đồng Tiến, THPT Ba Chẽ...
Quảng Ninh còn dành khoảng 31,3 tỷ đồng/năm để hỗ trợ tiền ăn trưa, kinh phí tổ chức dạy hè, tổ chức nấu ăn cho trẻ em mầm non; hỗ trợ tiền ăn, kinh phí chăm sóc cho học sinh bán trú... tại các vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo. Đội ngũ cán bộ, giáo viên tại những địa bàn này cũng thường xuyên được củng cố cả về số lượng và chất lượng thông qua các chính sách bổ sung biên chế, phụ cấp hàng tháng, bố trí chỗ ăn ở khi công tác, bồi dưỡng chuyên môn...
Nỗ lực rút ngắn chênh lệch vùng miền đã góp phần hiện thực hóa quyết tâm của tỉnh về việc đảm bảo mọi người dân đều được hưởng thành quả phát triển, tăng trưởng bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Qua rà soát, hiện mức thu nhập bình quân đầu người tại các xã vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo của Quảng Ninh đã đạt gần 84 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 40 triệu đồng so với năm 2020. Khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch vùng miền được thu hẹp đáng kể đã giúp cho Quảng Ninh hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 trước 3 năm, chuyển sang thực hiện chuẩn nghèo đa chiều mới của tỉnh với mức cao hơn bình quân chung cả nước. Đến nay, toàn tỉnh vẫn cơ bản duy trì không còn hộ nghèo theo tiêu chí Trung ương và quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2023-2025 của tỉnh.
Động lực từ Nghị quyết 06-NQ/TU đã góp phần thúc đẩy phát triển bền vững cho vùng biên giới, hải đảo - những vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Do đó, những kết quả đạt được qua 5 năm triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TU đã trở thành điểm nhấn quan trọng trong thực hiện mục tiêu giữ vững khu vực biên giới, hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác cùng phát triển; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của Quảng Ninh và cả nước.
|
Theo Sở VH,TT&DL, số hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa, số khu dân cư đạt danh hiệu “Thôn, khu văn hóa” của Quảng Ninh luôn duy trì năm sau cao hơn năm trước. Đến năm 2025, toàn tỉnh có 96,9% gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”; có 97,9% khu dân cư đạt danh hiệu “Thôn, khu phố văn hóa”. Toàn tỉnh có trên 1.600 CLB, tổ, đội văn nghệ với trên 30.000 hội viên tham gia. Hằng năm các cuộc liên hoan, hội diễn văn từ cấp tỉnh đến cơ sở đều được tổ chức thường xuyên, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích. Thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở đã cơ bản được quan tâm đầu tư đồng bộ, góp phần vào đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân...
|
Nguồn: https://baoquangninh.vn/dong-luc-tu-nghi-quyet-06-3393783.html






Bình luận (0)