
Đường phố rực rỡ cờ hoa trong những thời khắc trọng đại của đất nước.
Ngọn cờ hiệu triệu sức mạnh
Ngọn cờ búa liềm không chỉ là biểu tượng sức mạnh của giai cấp vô sản, mà còn đại diện cho sức mạnh của tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, tinh thần chính nghĩa của dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Ẩn sâu dưới sắc đào màu cờ ấy là chân lý thời đại đã được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc tìm ra, rằng: “Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của Nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn”. Đồng thời, chân lý ấy đã được lịch sử kiểm chứng, rằng: “Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho Nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”. Bởi vậy, ngọn cờ của Đảng có tính đại diện cho bản lĩnh, khí phách, trí tuệ, danh dự và có khả năng hiệu triệu sức mạnh vĩ đại của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Được dẫn dắt dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, dân tộc ta đã vượt qua vô vàn thách thức nghiệt ngã và làm nên những kỳ tích vĩ đại. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập và thống nhất nước nhà, “Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, kiên quyết lãnh đạo toàn dân đấu tranh xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới”. Để rồi, từ một đất nước mà cái tên cũng bị xóa khỏi bản đồ thế giới, dân tộc nhỏ bé ấy đã vùng lên đánh đuổi những thế lực ngoại xâm hùng mạnh nhất. Những chiến thắng lẫy lừng “đã đưa đất nước ta và Nhân dân ta lên ngang tầm cao của thời đại mới, thời đại thắng lợi của những lý tưởng cao cả: độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.
Trong hòa bình và kiến thiết, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta tiếp tục vượt qua vô số thăng trầm thời cuộc, từng bước thoát khỏi “vùng lõm phát triển”. Với công cuộc đổi mới ngót 40 năm, đất nước đã làm một cuộc vươn mình ngoạn mục, từ một nước nằm trong top những quốc gia nghèo nhất, vươn lên xếp thứ 32 trên thế giới với quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao... Đây là hành trình của sự kiên định, kiên trì, nỗ lực, quyết tâm và tinh thần sẵn sàng hy sinh, để dụng thế- tạo lực mà gây dựng nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc gia - dân tộc như ngày nay.
Có thể, 96 năm chỉ ví như một nốt chấm trên cuốn biên niên sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Song, tất cả những gì là vĩ đại nhất và đáng tự hào nhất của dân tộc ta, đã được kết tinh lại trong ngót gần 1 thế kỷ từ khi “đời ta có Đảng”. Để rồi, từ cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng ta có thể tự hào mà khẳng định rằng: “Đảng ta thật là vĩ đại!”.
Ngọn cờ tiếp dẫn tương lai
Bản chất của hệ thống chính trị ở Việt Nam được thể hiện đầy đủ và sâu sắc thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Cơ chế này cũng xác định mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền; Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đồng thời, khẳng định vai trò, địa vị làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. “Linh hồn” của cơ chế ấy chính là vai trò lãnh đạo duy nhất và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
“Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” là mệnh đề có nội hàm vừa bao quát, vừa sâu sắc: Đảng đề ra các định hướng đổi mới, khởi xướng quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Nhân dân thông qua các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội của mình, đã phát huy quyền làm chủ, tham gia quản lý Nhà nước và quản lý xã hội ngày càng tốt hơn... Và, chính những thành tựu vĩ đại mà dân tộc ta đạt được suốt gần 1 thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng sinh động cho tính tất yếu và đúng đắn của mệnh đề ấy. Trong đó, sự kiện chính trị có ý nghĩa sâu sắc, trở thành một minh chứng hết sức thuyết phục: tổng tuyển cử.

Bầu cử là phương thức thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân.
Ngay từ thời điểm Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã được thực hiện quyền làm chủ đất nước thông qua cuộc tổng tuyển cử lịch sử năm 1946. Bầu ra cơ quan dân cử cũng chính là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất để nước ta có “một hiến pháp dân chủ”. Đây là điều tối quan trọng, bởi hiến pháp là một thực thể gắn bó chặt chẽ với chế định dân chủ. Một xã hội không có hiến pháp thì người dân trong xã hội ấy sẽ không được hưởng quyền tự do, dân chủ thực sự. Cho nên, khi được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội khóa I đã soạn ra một bản Hiến pháp với những điều khoản có tính lịch sử và dựa trên những nguyên tắc căn bản, đó là: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của Nhân dân.
Từ bản Hiến pháp nền móng này, một nguyên tắc đã trở thành kim chỉ nam cho việc thực hiện quyền làm chủ đất nước của Nhân dân, đó là “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của Nhân dân”. Bởi lẽ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đánh dấu một bước ngoặt “vô tiền khoáng hậu”: từ “xã hội thần dân” chuyển sang “xã hội công dân”. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ “một cổ hai tròng” thực dân – phong kiến, trở thành công dân của một nước dân chủ - nơi mà quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân. Song, để vận hành một cách trơn tru “xã hội công dân” khi mà tàn dư của chế độ cũ vẫn chưa thể gột sạch ngay, thì hơn lúc nào hết phải đề cao tính pháp quyền của xã hội.
Pháp quyền được hiểu là một phương thức tổ chức xã hội mà ở đó pháp luật giữ vai trò thống trị và điều chỉnh tất cả các chủ thể trong xã hội. Nói cách khác, cái cốt lõi, tinh túy của một nền pháp quyền là đưa tinh thần thượng tôn hiến pháp, pháp luật vào quá trình quản lý xã hội. Không quản lý Nhà nước bằng pháp luật sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực và vi phạm quyền dân chủ; không quản lý xã hội bằng pháp luật thì công dân sẽ có những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khác và của cả cộng đồng.
Đề cao vai trò của pháp quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Lý giải điều này, có ý kiến cho rằng, pháp quyền được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành “thần linh” là nhằm nhấn mạnh vị trí tối cao và quyền uy của pháp luật - một thứ pháp luật hợp lẽ phải, hợp tự nhiên. Trong đó, Người xem hiến pháp là linh hồn của pháp quyền, là công cụ quan trọng nhất để xác lập và phân định các quyền. Để rồi, cùng với việc coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, thì sự ra đời của Hiến pháp sẽ tạo cơ sở pháp lý cho phương thức quản lý đất nước bằng pháp luật.
Để xây dựng xã hội pháp quyền thì phải xây dựng một Nhà nước pháp quyền làm nền tảng. Một Nhà nước mạnh là Nhà nước có hiệu lực và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Trải qua những giai đoạn cách mạng và trước đòi hỏi của thực tiễn, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” cũng ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
...
Đất nước đã và đang trải qua những thời khắc lịch sử trọng đại. Đại hội XIV của Đảng – Đại hội của những quyết sách trọng đại và tầm nhìn chiến lược – được kỳ vọng sẽ tiếp dẫn dân tộc ta tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình. Để thúc đẩy con thuyền dân tộc vượt qua những cơn sóng bất thường của thời cuộc, đòi hỏi người cầm lái phải vững vàng bản lĩnh và kiên định tay chèo; phải kiến tạo được một cỗ máy có động cơ thực sự mạnh mẽ; đồng thời, phải liên tục được tiếp nhiên liệu cho cỗ máy ấy vận hành trơn tru, hiệu quả. Tất cả các yếu tố ấy được thể hiện một cách thống nhất và đầy đủ qua việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để rồi, từ thành công của Đại hội XIV của Đảng, đến thành công của cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031 – nơi mà mỗi lá phiếu cử tri là đại diện cho sức mạnh, ý chí, niềm tin, kỳ vọng và cam kết của mỗi người dân Việt Nam – sẽ là tiền đề nội lực và sức mạnh, để vun đắp tương lai hưng thịnh cho quốc gia - dân tộc.
Bài và ảnh: Lê Dung
Nguồn: https://baothanhhoa.vn/duoi-co-dang-nbsp-quang-vinh-281614.htm






Bình luận (0)