Từ xã Lộc Quang đến vùng lõi Bù Gia Mập và cả huyền thoại sóc Bom Bo, hương men rượu cần đang kể những câu chuyện khác nhau về sức sống mãnh liệt của bản sắc.
Rượu cần của người Thái ở Lộc Quang - “Lảu xa” và nỗi nhớ quê mẹ xứ Thanh
Nét độc đáo trong quy trình làm rượu cần của người Thái ở Lộc Quang là không sử dụng vỏ cây rừng làm men như các dân tộc lân cận. Thay vào đó, bà con sử dụng 4 loại lá quý: lá khuông, lá nhạnh, lá pấu và lá trầu rừng - các giống cây này vốn không có sẵn ở miền Nam mà được chính người dân tộc Thái khi di cư vào đây đã mang theo giống, cành chiết từ quê gốc Thanh Hóa để trồng trong vườn nhà.
Bà Hà Thị Đoàn (ngụ ấp Hiệp Hoàn A, xã Lộc Quang), nghệ nhân làm rượu cần người đồng bào Thái chia sẻ: “Việc chọn lá là nghi thức đòi hỏi sự thấu hiểu thiên nhiên sâu sắc và được truyền dạy từ ông bà, bố mẹ. Lá phải hái lúc đã già, đủ độ chát và tinh dầu. Nếu hái lá non, rượu sẽ bị chua, nhạt màu và không thể bảo quản lâu. Đây không chỉ là kỹ thuật hái lá, mà là sự trân trọng đối với di sản mà tổ tiên đã truyền dạy như bí quyết gia truyền”.
Trong quan niệm của người Thái, men rượu chính là “trái tim” của ché rượu. Men ngon thì rượu mới nồng, người uống mới say cái say nghĩa tình. Sau khi giã nhuyễn các loại lá và củ gừng đỏ, hỗn hợp được nặn thành những viên tròn. Quy trình phơi men là lúc thử thách bản lĩnh của người thợ. Men phải được phơi nắng đủ 3 ngày trong điều kiện thời tiết khô ráo.
![]() |
| Gia đình ông Vi Văn Thạch là một trong số ít hộ đồng bào Thái ở xã Lộc Quang giữ nghề truyền thống làm rượu cần. Ảnh: Thu Hà |
Nghệ nhân Vi Văn Thạch được biết đến với tên gọi “Bố Thạch” có đặc sản rượu cần đạt chất lượng OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) cho biết: “Chỉ cần nhìn vào sắc diện của viên men là biết “linh hồn” của rượu có đạt hay không. Viên men đạt chuẩn phải lên màu trắng ngà hoặc nâu nhạt, tỏa mùi thơm dìu dịu của thảo mộc rừng. Nếu men chuyển sang sắc đen, người Thái dứt khoát bỏ đi, bởi họ quan niệm đó là điềm báo của sự không may mắn và chất lượng rượu không đảm bảo. Rượu “lảu xa” được ủ từ gạo nếp nấu chín, trộn đều với men bí truyền và ủ trong chum đất phủ lá chuối khô. Sau hơn một tháng ủ, rượu mới đạt độ chín, mang lại vị ngọt hậu thanh khiết, làm say lòng du khách phương xa”.
Rượu cần của người Thái khác với rượu cần của các dân tộc khác ở chỗ là bằng lá cây tươi chứ không dùng vỏ cây rừng. Nếp được nấu chín, trộn men, ủ trong chum đất hơn một tháng thì có thể uống.
Ông Nguyễn Văn Hà, Chủ tịch Hội Nông dân xã Lộc Quang cho biết: “Hội Nông dân xã cùng với chính quyền các địa phương đang hỗ trợ bà con vay vốn, trưng bày sản phẩm tại các hội nghị lớn để giới thiệu hương vị rượu cần đến với bạn bè quốc tế và du khách phương xa”.
Rượu cần của đồng bào Thái, M’nông hay S’tiêng đều ở Đồng Nai ngày nay gặp nhau ở một điểm chung - đó là tinh hoa của sự lao động cần cù và lòng tôn kính thiên nhiên.
Rượu cần M’nông ở Bù Gia Mập - hương vị của rừng già
Rời vùng đất người Thái ở xã Lộc Quang, hành trình đưa chúng tôi đến với xã Bù Gia Mập, nơi cư trú lâu đời của đồng bào M’nông và S’tiêng gắn với rừng Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Nếu rượu cần của người Thái mang vẻ thanh tao của vùng thấp, thì rượu cần M’nông lại mang đậm bản tính hoang dã, mạnh mẽ của vùng lõi rừng sâu.
Hành trình làm ra bình rượu cần của người M’nông bắt đầu từ việc đi rừng hái lá - một trong những công đoạn vất vả nhất trong quá trình làm ra bình rượu cần. Lá rừng là nguyên liệu quan trọng quyết định hương vị đặc trưng của rượu. Có 2 loại lá rừng là lá thân gỗ và thân bụi. Lá thân gỗ cho vị ngọt đắng, còn lá thân bụi cho vị ngọt thanh. Việc tìm và hái lá đòi hỏi sự tinh tế và kinh nghiệm lâu năm của người nghệ nhân.
![]() |
| Chị Thị Liên (đội mũ) ở thôn Bù Dốt, xã Bù Gia Mập - nghệ nhân làm rượu cần M’nông hái lá để làm rượu cần. Ảnh: Ly Na |
Chị Thị Liên, nghệ nhân làm rượu cần ở thôn Bù Dốt, xã Bù Gia Mập cho biết: “Để có bình rượu ngon phải lựa lá không bị sâu, không non quá, không già quá, lá vừa phải. Lá quyết định độ ngọt của rượu. Từ lúc tôi sinh ra, ông bà đã làm rồi. Tôi được theo ông bà đi hái. Ông bà chỉ cho tôi lá nào là hái được, lá như thế nào là không hái được, từ đó tôi học dần dần tới bây giờ”.
Để tạo nên hương vị của bình rượu cần, không thể thiếu men rượu. Men và lá quyết định độ ngọt, mặn, đắng của rượu. Mỗi dân tộc có cách làm men riêng, nên sẽ có hương vị độc đáo riêng. Loại men này được làm theo công thức riêng của người M’nông rất đặc biệt. Từ những nguyên liệu độc đáo như: vỏ cây, rễ cây rừng và gạo, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ M’nông, men được tạo ra để ủ cùng với cơm gạo và lá rừng. Sau khi ủ trong bình khoảng một tuần, rượu sẽ lên men là có thể thưởng thức. Điều đặc biệt, rượu ủ càng lâu càng ngon và khi mở nắp bình rượu thì phải uống ngay.
Bên cạnh ché rượu nồng, là những nốt trầm trong câu chuyện giữ nghề của những người nghệ nhân M’nông. Hiện nay, số hộ gia đình người M’nông tại Bù Gia Mập còn giữ được kỹ thuật làm men rượu truyền thống chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bà Thị Py Ốt (mẹ chị Liên), thôn Bù Dốt tâm sự: “Tôi rất mong muốn con cháu mình duy trì, mình còn một người thì cũng phải duy trì, 2 người cũng phải duy trì, cả con, cả cháu, cả chắt, hết đời này tới đời sau nữa sẽ mãi mãi như thế”…
Thời gian tới, để sản phẩm rượu cần của người M’nông trên đất Bù Gia Mập có thể phát triển, chính quyền địa phương đã có những định hướng về bảo tồn bản sắc văn hóa gắn liền với sản phẩm du lịch. Trong đó, mục tiêu xây dựng rượu cần M’nông đạt chuẩn OCOP. Đồng thời phát triển du lịch dân tộc tại chỗ, điển hình là hộ gia đình chị Liên sẽ là một trong những trải nghiệm văn hóa truyền thống, trong đó có hoạt động trải nghiệm làm và thưởng thức rượu cần của đồng bào M’nông cho du khách khi đến Bù Gia Mập.
Rượu cần S’tiêng - di sản phi vật thể quốc gia
Tại xã Bom Bo, rượu cần S’tiêng đã vượt ra khỏi phạm vi thức uống thông thường để trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được công nhận năm 2019. Đây là niềm kiêu hãnh của cộng đồng người S’tiêng trên vùng đất Đông Nam Bộ.
Khác biệt lớn nhất làm nên thương hiệu rượu cần S’tiêng chính là bánh men được làm từ vỏ cây rừng. Đồng bào S’tiêng không dùng lá mà chủ yếu sử dụng vỏ cây “Tôm cray năng”. Người nghệ nhân đẽo vỏ cây, phơi khô rồi giã nhuyễn thành bột, trộn với bột gạo theo tỷ lệ 1:1. Chính vỏ cây “Tôm cray năng” đã tạo nên vị đắng, vị ngọt và vị cay nồng nàn đặc trưng. Khi uống, thực khách sẽ cảm nhận được hương vị thơm như mật ong rừng, ngọt lịm nhưng lại có sức công phá mạnh mẽ, khiến người ta “say mềm môi mà chẳng muốn về”.
Quy trình làm rượu của người S’tiêng nhuốm màu huyền thoại. Khi rắc men vào cơm nếp, nghệ nhân thường đọc những câu “thần chú” khẩn cầu thần men, mong cho bình rượu được thơm ngon, giúp cho những đôi trai gái tìm thấy nhau trong lễ hội.
Chia sẻ về ý nghĩa của thức uống này trong đời sống tâm linh, chị Điểu Thị Xia, chủ cơ sở chế biến rượu cần S’tiêng ở Bom Bo cho biết: “Trong văn hóa người S’tiêng, nếu trong các lễ hội mà không có xuất hiện rượu cần thì lễ hội đó không còn là một lễ hội nữa. Khi có khách vô nhà, người S’tiêng rất quý khách và trọng tình nghĩa anh em nên họ sẽ bưng ché rượu cần ra đãi”. Đặc biệt, trong nghi thức cưới hỏi, rượu cần đóng vai trò là “người dẫn chuyện”.
Hương vị rượu cần các dân tộc ở Đông Nam Bộ không chỉ là vị của men lá, vỏ cây hay gạo nếp. Đó là vị của lịch sử, của sự gắn kết và lòng tự trọng dân tộc. Để men rừng mãi nồng nàn, cần lắm sự chung tay của cả cộng đồng, từ việc hỗ trợ kinh tế cho nghệ nhân đến việc quảng bá tinh hoa văn hóa này ra thế giới.
Thu Hà
Nguồn: https://baodongnai.com.vn/dong-nai-cuoi-tuan/202602/giu-huong-men-ruou-can-bb1298a/








Bình luận (0)