Làng nghề nồi đất Trù Sơn ra đời từ thế kỷ XVII, khởi nguồn từ nhu cầu nấu nướng, sinh hoạt của người dân vùng quê xứ Nghệ. Những chiếc nồi đất đầu tiên chỉ là vật dụng mộc mạc trong mỗi gian bếp. Thế nhưng, qua thời gian, nghề làm nồi đã dần được nâng tầm, trở thành một dấu ấn văn hóa đặc trưng, gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của bao thế hệ.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Hồng cần mẫn với những vòng xoay tạo nên chiếc nồi đất. |
![]() |
| Mỗi chiếc nồi đất được tạo nên từ sự cần cù và tỉ mỉ của người dân lao động. |
Đất làm nên nồi Trù Sơn không phải thứ đất bình thường. Đó là đất sét được lấy từ những bãi phù sa ven sông Đào, sông Lam, nơi dòng nước bồi đắp qua năm tháng, tạo nên lớp đất dẻo, mịn, có khả năng chịu nhiệt cao. Đất sau khi đào về phải phơi nắng, loại bỏ tạp chất, rồi nhào nặn kỹ lưỡng như một nghi thức không thể thiếu trước khi bước vào công đoạn tạo hình. Trên bàn xoay, khối đất vô tri dần hiện lên hình hài, từ chiếc nồi cơm, chảo rán đến chum, vại… Mỗi động tác tay đều đòi hỏi sự khéo léo và cảm nhận tinh tế. Chỉ cần lệch một nhịp, chiếc nồi có thể mất dáng, mất hồn.
![]() |
| Nồi đất được đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. |
![]() |
| Các chủ nhà hàng, quán ăn thường đặt mua nồi đất với số lượng lớn. |
Sau khi tạo hình, sản phẩm được phơi khô tự nhiên từ một đến hai ngày, rồi đưa vào lò nung ở nhiệt độ 800–900 độ C. Lửa trong lò đỏ rực như thử thách cuối cùng. Khi mở lò, những chiếc nồi đất hiện ra với sắc nâu sẫm, rắn chắc, mang theo cả mồ hôi và sự kiên nhẫn của người thợ. Từng sản phẩm được kiểm tra kỹ lưỡng, như cách người làng trân trọng chính công sức của mình.
Giữa khoảng sân nhỏ phủ đầy màu nâu của đất, bà Nguyễn Thị Hồng vừa thoăn thoắt nắn từng thớ đất, vừa chia sẻ bằng giọng mộc mạc: “Những ngày nông nhàn, hai vợ chồng tôi ngồi làm cũng được chừng 50 chiếc nồi. Mỗi chiếc bán khoảng 10.000 đồng, tích góp lại, mỗi năm nghề này cũng mang về thêm khoảng 50 triệu đồng”.
Con số ấy không quá lớn, nhưng với người dân Trù Sơn, đó là nguồn thu nhập quý giá, giúp trang trải cuộc sống, nuôi con ăn học và giữ được nhịp lửa gia đình. Với bà Hồng, mỗi chiếc nồi là kết tinh của sự cần cù và niềm gắn bó với nghề tổ tiên để lại. Bàn tay bà đã quen với đất, với lửa, với từng vòng quay chậm rãi của chiếc bàn xoay. Bà Hồng bảo, làm nghề này không giàu nhanh, nhưng có đồng ra đồng vào, lại được làm ngay tại nhà.
![]() |
| Những chiếc nồi đất chứa đựng ký ức, hương vị xưa. |
Không phải ngẫu nhiên mà nồi đất Trù Sơn được nhiều gia đình và nhà hàng ưa chuộng. Nồi giữ nhiệt lâu, làm chín thức ăn từ từ, giúp món ăn dậy lên hương vị đậm đà rất riêng. Một nồi cơm niêu hay nồi canh hầm bằng đất luôn mang lại cảm giác ấm áp, gần gũi, như bữa cơm quê xưa.
Ngày nay, làng nghề vẫn duy trì hoạt động với hơn 200 hộ gia đình tham gia sản xuất, tạo ra hàng nghìn sản phẩm mỗi năm. Nghề làm nồi đất giúp người dân tăng thu nhập, góp phần tạo dựng thương hiệu cho địa phương, giữ lại một phần hồn cốt của vùng đất xứ Nghệ.
Thế nhưng, giữa nhịp sống hiện đại, những chiếc nồi đất đang phải cạnh tranh với nồi nhôm, nồi inox, bếp điện… tiện lợi và nhanh chóng hơn. Nguồn đất sét cũng chưa được quy hoạch ổn định, khiến việc sản xuất gặp nhiều khó khăn. Đáng lo hơn, lớp trẻ ngày càng ít mặn mà với nghề, khiến những bàn tay nối nghề dần thưa vắng.
![]() |
| Làng nghề làm nồi đất lưu giữ một phần hồn cốt văn hóa xứ Nghệ. |
![]() |
| Những chiếc nồi đất được phơi khô giữa khoảng sân đầy nắng. |
Ở một góc làng Trù Sơn, ngôi nhà của bà Nguyễn Thị Quế lúc nào cũng phảng phất mùi đất ẩm và khói lò nung đã theo gia đình bà suốt ba thế hệ. Trong khoảng sân nhỏ, những dãy nồi đất xếp ngay ngắn, còn vương hơi ấm. Bà Quế chia sẻ, nghề làm nồi đất vẫn đều đặn mang lại thêm nguồn thu nhập cho gia đình. “Làm ra đến đâu là bán hết đến đó, nhiều khi khách hỏi mà không có hàng để bán”, bà Quế cười hiền. Những chiếc nồi mộc mạc ấy vẫn được thị trường ưa chuộng, như một cách người ta tìm về hương vị xưa trong nhịp sống hiện đại.
Thế nhưng, phía sau câu chuyện “đắt hàng” ấy lại là nỗi trăn trở không nhỏ. Theo bà Quế, khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn nguyên liệu. “Muốn làm cũng không có đất mà mua, vì chưa có quy hoạch vùng khai thác ổn định”, bà nói, ánh mắt thoáng chùng xuống.
Ở Trù Sơn, những vòng quay đất vẫn lặng lẽ xoay, những lò nung vẫn đỏ lửa mỗi ngày. Dẫu còn đó không ít khó khăn, người dân nơi đây vẫn cần mẫn giữ nghề như giữ một phần nếp nhà. Chỉ mong rằng, khi có nguồn nguyên liệu ổn định hơn, những chiếc nồi đất giản dị ấy sẽ còn tiếp tục ra đời, để làng nghề bền bỉ đi cùng năm tháng, lưu giữ nét đẹp của xứ Nghệ.
Nguồn: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/giu-lua-lang-nghe-noi-dat-tru-son-1032582













Bình luận (0)