Chi phí logistics - “Nút thắt” lớn nhất
Công ty TNHH MTV Seshin VN2 xuất khẩu quý I-2026 được 2,1 triệu sản phẩm, đạt gần 27% kế hoạch năm 2026. Ông Park Sang Joon, Giám đốc sản xuất Công ty TNHH MTV Seshin VN2 cho biết, kết quả xuất khẩu trong quý I của đơn vị khả quan là do các đơn hàng đã ký kết từ cuối năm 2025. Từ quý II trở đi doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức hơn do ảnh hưởng của phán quyết ngày 20-2-2026 của Tòa án Tối cao Mỹ về việc chấm dứt thuế đối ứng toàn cầu, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng khốc liệt. Xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, dịch chuyển sang các quốc gia có chi phí và thuế thấp hơn diễn ra mạnh mẽ.
![]() |
| Sản xuất gỗ xuất khẩu sang thị trường Đài Loan tại Công ty Cổ phần Cơ khí Tuyên Quang. |
Hiện sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ chịu mức thuế khoảng 10%, tạm thời ổn định. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là chi phí vận chuyển tăng thêm 50% so với trước và tình trạng thiếu lao động là hai yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Để chủ động, doanh nghiệp đang đàm phán các hợp đồng dài hạn với đối tác nhằm chia sẻ rủi ro nếu chi phí tiếp tục tăng hoặc biến động kéo dài.
Không chỉ Seshin VN2, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ cũng chịu áp lực tương tự. Ông Yan XiaoJun, Phó Giám đốc sản xuất Công ty TNHH Greenhome Flooring, cho biết, từ đầu năm 2026, doanh nghiệp sản xuất tấm lát sàn công nghiệp xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ, Canada, Anh, với sản lượng 8 - 10 container mỗi tháng. Tuy nhiên, bất ổn chính trị khiến chi phí vận chuyển tăng khoảng 40%, trong khi giá nguyên liệu gỗ và chi phí lao động đều tăng, tạo áp lực “kép” lên doanh nghiệp.
Theo các chủ doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ thì căng thẳng tại khu vực Biển Đỏ buộc nhiều tuyến vận tải phải vòng qua Mũi Hảo Vọng, kéo dài thời gian giao hàng thêm 14-20 ngày. Giá cước container đi Mỹ và EU tăng gấp 2 - 3 lần, kèm phụ phí rủi ro từ 2.000 - 4.000 USD/container. Chu kỳ quay đầu tàu kéo dài dẫn đến thiếu container rỗng tại các cảng lớn như Cát Lái, Hải Phòng, khiến hoạt động xuất khẩu càng thêm khó khăn. Trước tình hình này, doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất, chủ động nguồn cung và phối hợp chặt chẽ với đối tác để tránh đứt gãy chuỗi cung ứng.
Doanh nghiệp xoay trục thị trường
Trước áp lực chi phí và thị trường, nhiều doanh nghiệp đã chủ động điều chỉnh chiến lược xuất khẩu. Ông Lê Huy Giang, Giám đốc Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm cho biết, năm 2025 doanh nghiệp xuất khẩu hơn 820 tấn chè, đạt gần 1,19 triệu USD, vượt hơn 20% kế hoạch. Năm 2026, công ty định hướng mở rộng thị trường sang Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga; đồng thời tăng tỷ trọng chè xanh xuất khẩu sang châu Á thay vì chè đen sơ chế sang thị trường Trung Âu như trước. Cùng với mở rộng thị trường, doanh nghiệp đầu tư máy móc, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, phấn đấu tăng 150% giá trị xuất khẩu trong năm 2026.
Trong khi đó, Công ty Cổ phần Cơ khí Tuyên Quang lựa chọn hướng đi thận trọng hơn khi ưu tiên các thị trường gần như Trung Quốc, Malaysia để tiết giảm chi phí. Quý I-2026 công ty sản xuất, xuất khẩu 1.451 m3 gỗ, đạt 26,4% kế hoạch năm 2026. Ông Phạm Xuân Hưởng, Giám đốc Công ty cho biết, việc tập trung vào các thị trường này giúp giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian giao hàng và đảm bảo đơn hàng ổn định. Qua đó, doanh nghiệp giữ vững biên lợi nhuận, duy trì sản xuất và chủ động kế hoạch tài chính, hạn chế rủi ro khi mở rộng sang thị trường mới.
Quý I-2026, giá trị xuất khẩu của tỉnh ước đạt 117,37 triệu USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu tích cực, song cũng phản ánh nỗ lực “giữ nhịp” của doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động.
Đồng chí Lộc Kim Liễn, Phó Giám đốc Sở Công Thương nhận định, bất ổn địa chính trị buộc doanh nghiệp phải linh hoạt ứng phó với biến động thị trường, thích ứng với áp lực từ logistics, tỷ giá, chi phí và rào cản kỹ thuật. Khi đó, bài toán không chỉ là mở rộng thị trường mà là duy trì hiệu quả xuất khẩu.
Vì vậy, tỉnh định hướng đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường thông qua xúc tiến thương mại, đồng thời chuyển sang “xúc tiến có chọn lọc”, tập trung vào 4 nhóm hàng chủ lực: nông - lâm sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; may mặc; và các mặt hàng mới. Đây là hướng đi nhằm khai thác lợi thế, nâng cao giá trị gia tăng thay vì chạy theo số lượng. Bên cạnh đó, các hoạt động đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp được tăng cường, tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục, hạ tầng và thông tin thị trường.
Sự đồng hành kịp thời của chính quyền trong tỉnh đang góp phần củng cố niềm tin, giúp doanh nghiệp duy trì sản xuất và từng bước thích ứng với bối cảnh mới.
Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động như hiện nay, xuất khẩu của tỉnh sẽ tiếp tục đối mặt với không ít thách thức. Tuy nhiên, chính áp lực đang buộc doanh nghiệp thay đổi tư duy, chủ động thích ứng và tái cấu trúc thị trường. Khi “nút thắt” từng bước được tháo gỡ, cùng với sự đồng hành của chính quyền và nỗ lực nội tại của doanh nghiệp, xuất khẩu không chỉ giữ được nhịp mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
Bài, ảnh: Trang Tâm
Nguồn: https://baotuyenquang.com.vn/kinh-te/202604/giu-nhip-xuat-khau-7262786/







Bình luận (0)