Lễ hội đền Sái gắn với tín ngưỡng thờ Đức Huyền Thiên Trấn Vũ được truyền tụng đã phù trợ vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Tương truyền, để tạ ơn thần linh, nhà vua từng thân chinh về núi Sái làm lễ. Về sau, nhằm giảm tốn kém của nhân dân, vua đã ban chiếu cho dân làng thay mặt triều đình, thực hiện nghi thức rước "Vua sống". Từ đó, nghi thức trở thành linh hồn của lễ hội đền Sái, được truyền nối gần như nguyên vẹn qua nhiều thế hệ. 

Trong mùa lễ hội năm nay, từ tờ mờ sáng, những ngả đường tại xã Thư Lâm (Hà Nội) đã dậy sóng âm thanh trống hội, tiếng chiêng ngân vang hòa cùng sắc cờ ngũ sắc rực rỡ trong gió xuân. Từng đoàn nghi trượng lần lượt quy tụ về sân đình và khu vực đền Sái, chỉnh trang đội hình, sẵn sàng cho nghi thức rước “Vua sống”, linh hồn của mùa hội. Đặc biệt, niềm vui tại Lễ hội đền Sái 2026 còn nhân lên bội phần khi lễ hội chính thức được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đó không chỉ là một danh hiệu, mà là sự công nhận truyền thống đã bền bỉ tồn tại qua bao thế hệ.

Bà Nguyễn Thị Hòa (Sinh năm 1970, ngụ tại xã Thư Lâm, Hà Nội) bày tỏ: “Tôi đã tham gia lễ hội từ khi còn bé. Tôi cảm thấy rất hân hoan và hào hứng khi xem nghi thức rước “Vua sống”. Năm nay, tôi cùng con cháu đi xem nên càng thêm phấn khởi, vui vẻ”.

Đông đảo người dân và du khách tham dự nghi thức rước "Vua sống" tại Lễ hội đền Sái 2026.

Theo truyền thống, đoàn rước gồm kiệu Chúa, kiệu Vua và các chức sắc như Quan Thự Vệ, Quan Tán Lý, Quan Đề Lĩnh và Quan Trấn Thủ. Người đóng vai Vua, Chúa, các quan thực hiện nghi thức phải là những người cao niên, gia đình vẹn toàn. Năm nay, vai vua do ông Ngô Xuân Tá (sinh năm 1953, ngụ tại xã Thư Lâm, Hà Nội) đảm nhiệm; vai chúa do ông Ngô Tiền Thức (sinh năm 1953, ngụ tại xã Thư Lâm, Hà Nội) đảm nhiệm. Ông Ngô Xuân Tá chia sẻ: “Tôi sinh ra và lớn lên ở làng. Thế nên, tôi rất tự hào khi được bà con tin tưởng giao vai trò vua tại lễ hội”.

Giữa tiếng nhạc lễ ngân vang, đi đầu là cờ mao huyết, kiệu Chúa, tiếp theo là kiệu Vua và các vị quan. Kiệu Vua dừng tại Đồng Chầu, nơi “Vua” xuống kiệu, đi lên gò Vọng để làm lễ bái vọng Đức Thánh Huyền Thiên tại đền Sái. Cùng lúc đó, kiệu Chúa tiến về phía đền Thượng. Chúa thực hiện nghi thức ươm gươm, chém ba nhát vào hòn đá rồi vào đền hành lễ, sau đó tiến vào đền làm lễ bái bài vị Cao Sơn Đại Vương.

Chúa vào đền Thượng đứng vái trước bài vị Cao Sơn Đại Vương ba vái, rồi chúa biến mất, dân làng khiêng kiệu không về đình. Vua trở lại đình làng, ngự trên ngai vàng trong tiếng reo vui mừng của bà con làng xóm. Người người cùng tụ tập hai bên đường thành kính nhận lộc của vua, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống bình an.

Chị Nguyễn Minh Thư (sinh năm 1980, ngụ tại phường Cầu Giấy, Hà Nội) chia sẻ: “Tôi ấn tượng nhất là sự tham gia đông đủ của người dân trong làng. Tôi nghĩ chính sự chung tay ấy đã làm nên sức sống cho lễ hội, để một nghi thức cổ xưa vẫn hiện diện rõ nét trong đời sống hôm nay”.

Quả thật, lễ hội đền Sái nói chung và nghi thức rước “Vua sống” nói riêng không chỉ gây ấn tượng bởi tính chất nghi thức đặc sắc mà còn là sợi dây gắn bó các thế hệ tại địa phương. Từ việc chọn người đảm nhiệm vai vua, vai chúa, phân công các chức danh trong đoàn rước đến khâu chuẩn bị áo bào, kiệu, cờ quạt, nhạc lễ,… tất cả đều có sự chung tay của các dòng họ, các gia đình và đông đảo người dân địa phương. Người cao tuổi truyền lại từng động tác, từng câu xướng; lớp trẻ học cách đi đứng, bái lạy, giữ gìn kỷ cương. Trong dòng chảy ấy, nghi thức không chỉ được thực hành mà còn được trao truyền như một “bài học” về truyền thống và trách nhiệm cộng đồng.

Chính sự chủ động tham gia và trao truyền giữ những thế hệ đã tạo nên nền tảng vững chắc cho lễ hội tồn tại giữa những biến thiên của xã hội. Việc được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vì thế không chỉ ghi nhận chiều sâu lịch sử của Lễ hội Đền Sái, mà còn khẳng định giá trị đương đại, nơi di sản sống bằng sự đồng lòng của cộng đồng và tiếp tục được nuôi dưỡng trong đời sống hôm nay.

Phó chủ tịch UBND xã Thư Lâm Nguyễn Thành Luân chia sẻ: “Lễ hội có ý nghĩa sâu sắc trong giáo dục truyền thống lịch sử, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đồng thời, lễ hội tạo điểm nhấn về không gian, cảnh quan văn hóa, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương”.

Nguồn: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/hon-viet-trong-mua-hoi-den-sai-1028124