Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo miền Tây Nghệ An, nơi người ta quen với gió Lào bỏng rát và những mùa lũ vẫn đều đặn ghé qua mỗi năm. Cuộc sống lam lũ, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, nhưng lạ thay, trong ký ức tôi, quê hương chưa bao giờ hiện lên với gam màu khắc nghiệt. Bởi ở đó, con người thương nhau bằng thứ tình cảm mộc mạc mà bền bỉ, đủ để xoa dịu mọi thiếu thốn. Chính những ký ức ấy đã nâng đỡ tôi suốt những năm tháng xa quê, khi đối diện với cô đơn và chông chênh giữa nơi phố thị.

Giờ đây, kẹo cà chủ yếu được làm bằng máy với những viên tròn, đều tăm tắp, vàng ruộm, giòn tan. 

Nhà tôi cũng như bao gia đình khác trong làng, chẳng mấy khi dư dả. Hết hạn hán lại đến mưa lũ, cái nghèo cứ quẩn quanh bám riết. Nhưng lạ lắm, cứ đến Tết, bố mẹ tôi dường như quên hết nhọc nhằn để lo cho chị em tôi một cái Tết đủ đầy nhất có thể. Không nhiều nhặn, chỉ vài chiếc bánh chưng xanh, mấy đòn bánh tét, nồi cá mè nướng hay thịt lợn rim mật mía. Và đặc biệt, Tết trong ký ức tôi sẽ không trọn vẹn nếu thiếu mấy gói kẹo cà thơm lừng, thứ quà quê bé nhỏ mà gần ba mươi năm nay tôi vẫn không sao quên được.

Kẹo cà quê tôi trông na ná bánh nhãn ngoài Bắc, cũng là những viên tròn nhỏ xíu, vàng ruộm. Nhưng hương vị thì rất riêng với mùi cay, thơm nhẹ của gừng, vị béo ngậy của sữa đặc, trứng gà quyện trong lớp bột nếp thơm. Một mẻ kẹo đạt chuẩn phải tròn đều, phồng xốp, cắn vào nghe giòn rụm, để lại dư vị ngọt nhẹ và ấm áp nơi đầu lưỡi. Cái vị ấy, dù sau này tôi có ăn bao nhiêu loại kẹo cà được làm công phu hơn, đẹp mắt hơn cũng không thể tìm lại trọn vẹn.

Để có được mẻ kẹo ưng ý, mẹ tôi thường chuẩn bị nguyên liệu từ rất sớm. Dù bận rộn đến đâu, mẹ cũng dành thời gian chọn loại gạo nếp ngon nhất, phơi khô lại kỹ càng rồi mang ra tiệm xay lấy bột. Trứng phải là trứng gà nhà, được mẹ lựa từng quả. Gừng được cạo sạch vỏ, giã nhuyễn, lọc lấy nước. Khi những nguyên liệu ấy đã sẵn sàng, không khí Tết cũng theo đó mà về trong căn nhà nhỏ của tôi.

Thật lạ, hồi đó, đám bạn trong xóm tôi, chẳng cần ai gọi, cứ nghe tin “nhà tau tối nay làm kẹo cà” là tự động kéo sang. Đến hôm ấy, gian bếp bỗng chốc trở nên chật kín. Tiếng cười nói rộn ràng, tiếng gọi nhau í ới vang khắp ngõ. Có đứa bạn ở cách nhà tôi cả chục cây số, vẫn lọ mọ đạp xe trong đêm tối chỉ để kịp góp mặt. Đứa mang bắp ngô, đứa mang củ khoai, đứa khác lại xách theo vài khúc mía – gọi là “giúp”, mà thực ra là để đến “buôn” là chính. 

Nói là giúp, nhưng hễ đến đoạn nhào bột thì đứa nào đứa nấy đều tìm cớ lảng đi. Phần việc quan trọng ấy lúc nào cũng do mẹ tôi hoặc các cô hàng xóm khéo tay đảm nhận. Nhìn tay mẹ thoăn thoắt đảo đều, đứa nào đứa nấy cũng trầm trồ. Trộn bột nếp với đường, sữa, trứng tưởng chừng đơn giản, nhưng để kẹo phồng xốp, giòn ngon thì không phải ai cũng làm được. Chúng tôi chỉ đứng quanh, chờ đến những phần “dễ thở” hơn.

Trong lúc chờ bột, lũ trẻ con chúng tôi chia nhau nhóm lửa, nướng khoai, rang ngô, rồi tranh nhau kể chuyện trên trời dưới đất. Gian bếp khi ấy chẳng khác nào một phiên chợ vỡ. Mỗi đứa một câu, ồn ào đến mức tưởng chừng chẳng ai nghe ai, vậy mà có lúc lại đồng thanh phá lên cười, vô tư và hồn nhiên đến lạ.

Khi bột đã “đạt”, mẹ tôi dàn mỏng ra mâm, cắt thành những miếng vuông nhỏ bằng đốt ngón tay rồi vo thành viên tròn. Đến đoạn này, mấy đứa chúng tôi bắt đầu xung phong góp vui. Những viên kẹo chiếc thì méo, chiếc thì tròn, chiếc thì vuông, nhìn mà buồn cười. Nhưng mẹ chỉ cười hiền, bảo chúng tôi cho tất cả vào một chiếc chậu đã rắc sẵn chút bột khô rồi nhẹ tay lắc đều. Chỉ vài lần “hóa phép”, những viên kẹo lập tức trở nên tròn trịa, xinh xắn. 

Đến công đoạn đảo kẹo - công đoạn được mong chờ nhất, chúng tôi đứa nào cũng giành phần “giúp”. Nói giúp cho oai thế thôi chứ chúng tôi là hội… báo hại. Chúng tôi vừa đảo kẹo, vừa tranh thủ rang ngô, nướng khoai, mải mê đến quên cả nhiệm vụ. Khi kẹo vừa cho vào chảo dầu nóng, mùi thơm đã lan khắp gian bếp, đánh thức mọi giác quan của lũ trẻ háu ăn. Mới vài mẻ, kẹo đã có viên cháy xém, viên còn sống. Dù biết kết quả là thế, nhưng lần nào mẹ cũng mềm lòng trước những ánh mắt năn nỉ của chúng tôi.

Kẹo hỏng, mẹ tiếc của, còn chúng tôi thì vui lắm. Vì chẳng có nhiều nên chỉ có viên nào hỏng thì mới được ăn. Đứa nào đứa nấy sung sướng như mở hội. Dù có hơi khét, hơi cứng, nhưng trong ký ức tôi, đó là những viên kẹo ngon nhất trên đời. Không chỉ vì vị ngọt béo, mà vì trong đó có tiếng cười, có sự chờ đợi, có cả tình thương âm thầm của mẹ. Đến cuối buổi, thương những ánh mắt “hau háu” ấy, mẹ lại chia cho mỗi đứa một nắm nhỏ, như một phần thưởng cho cả hội.  

Giờ đây, giữa phố xá đầy ắp hàng quán, tôi có thể dễ dàng mua món ăn đó bất cứ lúc nào. Những viên kẹo làm bằng máy đều tăm tắp, vàng ruộm, giòn tan. Nhưng lạ thay, càng ăn tôi càng thấy thiếu một điều gì đó. 

Mỗi độ Tết về, giữa nhịp sống vội vã, lòng tôi lại chùng xuống bởi nỗi nhớ. Nhớ kẹo cà, nhưng nhớ hơn cả là khoảng thời gian sum vầy bên người thân, bên bạn bè, khi Tết còn là những ngày chậm rãi, ấm áp và đầy ắp yêu thương. Và có lẽ, suốt đời này, tôi sẽ chẳng bao giờ tìm lại được hương vị ấy nữa, hương vị của một thời đã xa, nhưng mãi mãi ở lại trong tim.

Nguồn: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/huong-keo-ca-ngay-tet-1025772