Khơi thông dòng vốn cho khoa học công nghệ
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD. Đến năm 2045 sẽ trở thành một trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu trong khu vực.
10 nhóm công nghệ chiến lược đã được xác lập, trải dài từ công nghệ số, sinh học, vật liệu mới cho tới hàng không vũ trụ, biển sâu và lượng tử. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành Danh mục 70 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và 100 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
GS.TS. Trần Hồng Thái - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết: "Đúng lúc này là lúc chúng tôi thấy rất chín muồi để chuyển trạng thái. Chúng ta không chỉ nghiên cứu cơ bản bình thường mà chúng ta phải tích hợp lại để làm chủ các công nghệ Việt, các sản phẩm Việt Nam làm sao để đóng góp ngay vào tăng trưởng hai con số".
PGS.TS. Đinh Văn Trung - Viện trưởng Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chia sẻ: "Việc đặt ra các bài toán lớn sẽ là động lực rất lớn để chúng ta tập trung nguồn lực và tập trung các nhà khoa học giải quyết các bài toán cụ thể, có ý nghĩa thiết thực".
Nhưng, đây cũng là lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian dài và mức độ chấp nhận rủi ro cao. Khơi thông dòng vốn cho khoa học công nghệ là yếu tố quyết định, để đưa những sản phẩm từ phòng thí nghiệm, ra đến thị trường.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ chốt, là "chìa khóa vàng", là yếu tố sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển. Do vậy, cần khẩn trương rà soát, tháo gỡ ngay các điểm nghẽn liên quan cơ chế tài chính cho lĩnh vực này. Đây là yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trong lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam.
Năm 2025, một gói tín dụng 500.000 tỷ đồng đã được xây dựng, với mục tiêu cấp vốn dài hạn cho các dự án đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược. Đến cuối tháng 2, các ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng tín dụng cho 8 dự án, với số vốn cam kết giải ngân là hơn 70.000. Trong đó, chưa có dự án khoa học công nghệ nào tiếp cận được dòng vốn này, bởi lẽ, chưa có danh mục dự án rõ ràng, cụ thể. Ngoài ra, yêu cầu về tài sản bảo đảm cũng là rào cản lớn khi họ tiếp cận vay vốn ngân hàng.
Khơi thông dòng vốn cho khoa học công nghệ
Điểm nghẽn vốn cho khoa học công nghệ
Chuyên nghiên cứu các công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo, doanh nghiệp ước tính cần ít nhất 5 tỷ đồng mỗi tháng để duy trì hoạt động. Con số này có thể tăng gấp đôi nếu có các dự án nghiên cứu mới. Tuy nhiên, họ không thể vay vốn ngân hàng vì thiếu tài sản bảo đảm.
Bà Mai Thúy Vinh - Phó Giám đốc Công ty ADT Global VN cho biết: "Ngân hàng sẽ đánh giá dựa trên tài sản thế chấp hữu hình là gì và tài chính của công ty có ổn định hay không. Tài sản lớn nhất của doanh nghiệp công nghệ lại không phải là tài sản hữu hình. Mà là sở hữu trí tuệ, nền tảng công nghệ và đội ngũ nhân sự, nên nó là vô hình. Chính vì sự lệch pha đó dẫn đến quá trình tiếp cận nguồn vốn đang gặp khó khăn".
Không có bất động sản thế chấp, các doanh nghiệp phải xoay sở nhiều cách: từ gọi vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, tới vốn góp từ cổ đông…. Với mục tiêu phát triển logistics thông minh, hiện đại hóa chuỗi cung ứng theo chủ trương của Chính phủ, doanh nghiệp này đã đổi mới nền tảng số, giúp quá trình theo dõi đơn hàng, làm thủ tục xuất nhập khẩu thuận tiện hơn. Tuy nhiên, khi cần vốn, họ cũng không tới ngân hàng mà phải tính phương án khác.
Bà Chu Thị Kiều Liên - Trưởng Chi nhánh, Công ty T&M Forwarding Hà Nội nêu ý kiến: "Công ty chúng tôi sản phẩm chính làm dịch vụ vận chuyển nên khi vay vốn ngân hàng, nếu yêu cầu về tài sản thế chấp thì chúng tôi không có tài sản thế chấp. Vì vậy, khi cần kêu gọi vốn, chúng tôi kêu gọi vốn từ các nguồn khác như kêu gọi cổ đông có thể gia tăng vốn điều lệ của mình".
Lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo có đặc thù riêng, là các sản phẩm dịch vụ mới nghiên cứu nên độ rủi ro lớn. Do đó, các chuyên gia đề xuất ngân hàng cần có cơ chế cho vay riêng, giảm bớt các ràng buộc về điều kiện tín dụng, cởi mở hơn như các quỹ đầu tư để phù hợp với nhóm doanh nghiệp này.
Ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam nhận định: "Đổi mới sáng tạo và start up có tỷ lệ rủi ro cao. 100 doanh nghiệp có khi chỉ có 1-2 doanh nghiệp thành công. Để hệ thống ngân hàng có thể thiết kế các gói hỗ trợ cho start up hoặc đổi mới sáng tạo, bản thân ngân hàng phải có các quỹ đầu tư mạo hiểm riêng, vận hành theo cơ chế để không tác động lên sự an toàn của hệ thống ngân hàng".
Để thu hẹp khoảng cách vốn giữa doanh nghiệp và ngân hàng, các chuyên gia cũng đề xuất cần đẩy mạnh cho vay theo hợp đồng đầu ra, theo dòng tiền thực chất của từng doanh nghiệp. Đồng thời, đánh giá các tài sản sở hữu trí tuệ để cân nhắc cấp hạn mức cho vay phù hợp.
Các doanh nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thường tìm đến nguồn vốn của các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ tư nhân
Giải pháp vốn cho đổi mới sáng tạo
Bản chất của tín dụng ngân hàng là ưu tiên an toàn, trong khi đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo lại mang tính rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài. Do đó, các doanh nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thường tìm đến nguồn vốn của các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ tư nhân.
Sau đại dịch năm 2022, lượng vốn đầu tư đổ vào lĩnh vực công nghệ của Việt có xu hướng giảm, đạt 398 triệu USD năm 2024. Đây cũng là xu hướng chung trên toàn cầu. Trong bối cảnh ấy, vai trò của dòng vốn Nhà nước ngày càng quan trọng, không chỉ cấp vốn trực tiếp, mà còn là "vốn mồi", dẫn dắt dòng tiền tư nhân cùng tham gia vào những lĩnh vực có rủi ro cao nhưng mang ý nghĩa chiến lược dài hạn đối với nền kinh tế.
Hà Nội vừa ra mắt Quỹ đầu tư mạo hiểm (HVCF) với vốn điều lệ ban đầu 230 tỷ đồng. Quỹ thực hiện đầu tư trực tiếp hoặc đồng đầu tư cùng các quỹ khác thông qua mua cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp. Mỗi khoản đầu tư tối đa 5% tổng vốn của quỹ.
Còn tại TP. Hồ Chí Minh, Quỹ đầu tư mạo hiểm của Thành phố cũng vừa mới được thành lập, nhằm cụ thể hóa cơ chế "đầu tư công, quản trị tư" với mục đích nguồn vốn Nhà nước thực sự trở thành "vốn mồi" tạo đà tăng trưởng cho các startups.
Quỹ đầu tư mạo hiểm có quy mô 500 tỷ đồng, với 40% từ Ngân sách Thành phố và 60% từ nguồn vốn tư nhân. Điểm đặc biệt của quỹ là có cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát chưa từng có tiền lệ, theo đó xác định ngưỡng chịu rủi ro cho phần vốn Nhà nước là 50%.
Ngưỡng rủi ro 50% được xét trên tổng thể danh mục trong một chu kỳ đầu tư, chứ không theo từng dự án đơn lẻ. Bên cạnh đó, đội ngũ vận hành quỹ trong đó có cán bộ Nhà nước nếu làm đúng trách nhiệm, quy định thì sẽ được miễn trừ trách nhiệm nếu khoản đầu tư thua lỗ. Các cơ chế này kỳ vọng sẽ giúp vốn mạo hiểm Nhà nước đến tay startup nhanh và hiệu quả hơn.
Ông Lê Hồng Minh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn VNG cho biết: "Thay đổi tư duy, tức là mình kiên trì đầu tư, mình chấp nhận một tỷ lệ thất bại. tích lũy những thất bại đó và mình hy vọng có một tỷ lệ nhỏ vừa phải mà ra được kết quả tốt, về lâu về dài sẽ xây dựng được thành quả của cả ngành khoa học công nghệ".
Theo Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố, mô hình quản trị quỹ cũng sẽ tách bạch quyền sở hữu vốn Nhà nước và quyền quản trị của doanh nghiệp... tiệm cận chuẩn mực quốc tế qua đó giúp thu hút nhà đầu tư.
Ông Lâm Đình Thắng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh nhận định: "Quyền quản trị sẽ được vận hành bởi một lực lượng doanh nghiệp chuyên nghiệp, đội ngũ chuyên gia. Đầu tư với định hướng đúng theo nguyên tắc của thị trường và theo tính chất hiệu quả là trên hết".
Chính quyền Thành phố cũng xác định quỹ mạo hiểm sẽ không phải là ngân hàng, mà vai trò là cung cấp vốn mồi. Mục tiêu sau 10 năm nữa sẽ mở rộng quy mô đến 5.000 tỷ với phần lớn là vốn từ tư nhân.
Các mô hình đầu tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên thế giới
Trên thế giới, một ví dụ rất điển hình về Quỹ đầu tư Nhà nước, đó chính là "Big Fund" - Quỹ lớn của Trung Quốc với tên đầy đủ là Quỹ Đầu tư Công nghiệp mạch tích hợp (CICF), được thành lập từ năm 2014, nhằm phát triển ngành công nghiệp bán dẫn nội địa. Quy mô hiện nay khoảng 47,5 tỷ USD.
Vốn Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, từ đó kéo thêm vốn từ ngân hàng, quỹ tư nhân và chính quyền địa phương. Đến năm ngoái, 6 ngân hàng lớn, trong đó có những cái tên như Ngân hàng Công Thương Trung Quốc, Ngân hàng Trung Quốc... đã tham gia rót vốn, nắm giữ 33,14% cổ phần. Nhiều doanh nghiệp lớn của Trung Quốc trong lĩnh vực chip đã nhận được nguồn vốn từ quỹ này. Trong đó phải kể đến cái tên DeepSeek. "Big Fund" - đang đàm phán để dẫn dắt vòng gọi vốn đầu tiên của start up này, với mức định giá có thể lên tới khoảng 45 tỷ USD.
Giới chức Trung Quốc cũng đang bắt đầu mở ra các quỹ mới nhằm thúc đẩy nhiều công nghệ chiến lược, như Quỹ Đầu tư Công nghiệp AI quốc gia trị giá 8,8 tỷ USD. Nhiều nước khác cũng đang áp dụng mô hình dùng nguồn lực nhà nước làm "vốn mồi" cho đầu tư đổi mới sáng tạo. Như quỹ Yozma của Israel đóng vai trò là một "quỹ mẹ", tài trợ thông qua lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, thu hút nhà đầu tư tư nhân và quỹ nước ngoài làm đối tác và cho phép họ mua lại cổ phần khi quỹ hoạt động tốt. Trong khi đó, quỹ SG Innovate của Singapore lại hướng tới tài trợ công nghệ sâu, ngay từ giai đoạn phát triển ban đầu cho tới khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Theo Báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu 2026 vừa mới được StartupBlink công bố, Việt Nam lần đầu tiên lọt vào top 50 thế giới về hệ sinh thái khởi nghiệp, tăng 5 bậc so với năm ngoái. Và khi những dòng vốn được khơi thông mạnh mẽ hơn, không chỉ các doanh nghiệp trẻ có thêm cơ hội bứt phá, mà cả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng sẽ có thêm động lực để vươn cao, vươn xa trên bản đồ công nghệ và kinh tế toàn cầu.
Nguồn: https://vtv.vn/khoi-thong-dong-von-cho-khoa-hoc-cong-nghe-100260523105742278.htm








Bình luận (0)