![]() |
| Thu hoạch chè. Ảnh: Ngọc Hải |
Khi về Minh Lý tôi được đến sống nhờ nhà anh Đảm. Anh hơn tôi chừng 5, 6 tuổi, tính tình thật thà, nhưng hơi gia trưởng. Bố anh Đảm mất sớm, chỉ còn mẹ già năm ấy đã vào tuổi 80 nhưng thấy cụ còn minh mẫn, đi đứng vẫn nhanh nhẹn.
Vợ chồng anh Đảm có 5 người con cả trai cả gái, trứng gà trứng vịt. Thằng Bảo, con lớn mới 16. Tên con cái trong gia đình được đặt khá ngộ nghĩnh. Ngoài anh tên Đảm, vợ chồng anh có hai con trai đặt tên là Bảo và Thành. Còn 3 cô con gái thì là Hoàn, Kế và Hoạch.
Thứ tự các tên trong gia đình là Đảm - Bảo - Hoàn - Thành - Kế - Hoạch. Sau khi cơ quan chúng tôi về lại thành phố nghe nói anh chị còn sinh thêm một cậu con trai nữa. Hết khẩu hiệu nên anh đặt tên nó là Thêm. Tất cả 9 người trong gia đình anh cũng như người dân trong xã nguồn sống dựa vào cây chè.
Tôi nghỉ trên chiếc giường đôi cạnh ban thờ, còn gian chính giữa đặt bộ bàn ghế dành làm nơi tiếp khách. Hai gian hai bên là buồng của anh chị, buồng cụ bà và gia đình. Ngôi nhà không rộng nhưng hợp lí, phía sau trồng chuối còn phía trước là mảnh đất được trồng chè.
Gia đình còn có một vạt đồi cũng để trồng chè nhưng cách nhà chừng hơn trăm mét. Khi về sống ở đây tôi mới được uống trà hằng ngày.Và có thể nói, tại đây lần đầu tiên tôi mới có chút hiểu biết về trà và mới biết uống trà.
Tôi biết đến trà Thái Nguyên vào năm 1958, khi tôi có việc từ Hà Nội lên Thái Nguyên. Buổi trưa, tôi vào cửa hàng Mậu dịch Ăn uống Thái Nguyên tìm thức ăn. Gọi là cửa hàng ăn uống nhưng hằng ngày đến bữa chỉ có một mặt hàng duy nhất là phở, lại là phở "không người lái", tức là chỉ có bánh phở và nước dùng, ngoài ra không có thịt thà gì khác. Lâu lâu cũng thấy có kèm thịt lợn. Nhưng thi thoảng thôi. Bát phở không thịt đã đành, còn không có cả vài cọng hành hay miếng chanh ớt. Cuộc sống như chỉ cần no.
Không biết từ khi nào nhưng cửa hàng còn có thêm một mặt hàng, đó là trà ấm. Không phải trà chén pha sẵn mà khi muốn uống trà thì khách mới được nhà hàng đưa ra bộ ấm chén, một gói trà nhỏ gói trong giấy báo kèm theo phích nước Rạng Đông loại hai lít rưỡi. Khách tự pha, đậm nhạt thế nào là tùy. Có thể ngồi ít phút cũng có thể ngồi lâu.
Chúng tôi cũng từng có lần ngồi cả buổi tối với ấm trà. Uống trà cũng là cái cớ để ngồi lâu trò chuyện. Nhưng ngày tôi trở lại vào năm 1960 thì món "đặc sản" này không hiểu sao đã không còn. Có thể kinh doanh món trà ấm không đem lại lời lãi. Câu: "Một bình trà ba phích nước" phải chăng xuất phát từ Thái Nguyên? Trà ngon, một phích nước sôi không đủ nên nhiều khách luôn xin thêm nước, rất mất công mà giá cả lại không cao.
Đấy là lần đầu được uống trà Thái Nguyên nhưng thực tình khi ấy tôi vẫn chưa biết thưởng thức trà cho đến khi về Minh Lý.
Nhớ hôm bác trưởng thôn dẫn tôi đến gia đình để giới thiệu, anh Đảm pha trà mời khách. Lúc anh mở cái nút bằng lá chuối ống vầu đựng trà, tôi thấy có một mùi thơm nhè nhẹ thoảng bay ra, rồi lan tỏa khắp gian nhà, hít vào thấy trong người sảng khoái. Anh Đảm nói, trà khô dễ mất mùi rất nhạy cảm nên phải để xa với các thứ có mùi vị khác, bởi vậy dóc trong ống lấy trà cho vào ấm xong anh cẩn thận đậy ngay nắp rồi đưa lên ngăn xép.
Nhìn chén nước có màu xanh nhạt pha ánh màu vàng, thơm dịu tôi đã toan uống ngay nhưng anh Đảm khuyên đừng vội, uống trà để thấy ngon thì phải chậm rãi. Hãy đưa chén trà lên ngửi ít phút để cảm nhận mùi hương thơm của trà đã.
Tôi làm theo chỉ dẫn. Khi nhấm nháp những ngụm nước trà đầu tiên cho tôi nhận ra vị chát chát, nhưng sau đó là chút gì ngòn ngọt, lúc lâu sau như còn đọng mãi trong cổ họng. Vị đậm đặc thấm vào tận chân răng. Uống trà như hút thuốc lào, lâu dần thành nghiện. Sáng tỉnh giấc mà không có ngụm trà điểm tâm thì như người mất hồn, miệng nhạt thếch. Thưởng thức trà hẳn không dành cho người tính tình nôn nóng.
Thường khi tôi tỉnh giấc thì gia đình tất cả đã lên đồi hái chè. Chỉ còn mẹ con anh Đảm và cháu nhỏ ở nhà. Mọi người trở dậy đi hái chè khi trời còn mờ sương. Tôi cũng có lần theo gia đình lên đồi xem hái chè và tập hái. Đồi chè của gia đình rộng như rừng.
Tưởng dễ nhưng hái chè không đơn giản. Tôi hái nhưng suốt buổi chỉ được đâu chừng vài nắm. Quan sát mọi người tôi thấy người nào người nấy ngón tay như có mắt, nhanh như múa mà cánh chè nào cũng được ngắt rất đúng cữ.
Chè hái về được đem về đổ đầy trên sân gạch bảo để cho hút bớt nước. Nhưng cũng không được phơi quá lâu, làm sao khi sao cánh chè vẫn phải còn tươi. Nghe nói để cho nhanh có gia đình đã đi ủng rồi dẫm lên đống chè cho nước chảy ra. Nhanh thì có nhưng chè sẽ ôi, nước trà đục. Thời gian phơi dài ngắn thế nào thì hẳn chỉ người làm chè mới biết .
Còn việc sao sấy chè thì không đơn giản.
Chiều tối, cơm nước xong chị Đảm lau chùi sạch sẽ một chiếc chảo khá to rồi đặt lên bếp nhóm lửa. Chị xếp cả mấy cái sàng và nia được đặt cạnh bếp. Sau khi chị Đảm chuẩn bị xong thì cụ Đảm mới đến ngồi bên chảo bắt đầu công việc, và tôi cũng chỉ thấy có cụ bà Đảm ngồi sao.
Cụ Đảm bảo, khi sao chè người sao phải rất tỉ mẩn, kiên nhẫn, khéo tay, nhanh mắt. Người trẻ ít kiên nhẫn nên thường làm các việc phụ. Chè tươi được đổ đầy chảo thì bắt đầu sao, một tay đảo đều từ lúc đổ chè vào chảo cho đến khi hoàn thành mẻ trà. Gọi là sao suốt. Trước khi cho chè tươi vào chảo cụ Đảm phải cho tay thăm dò, chờ khi chảo nóng đều và đủ nhiệt cụ mới đổ chè vào chảo. Sao chè ngọn lửa phải luôn cháy đều, không to cũng không để quá nhỏ. Ngồi sao xong mẻ chè hết buổi tối.
Từ lúc ngồi bên bếp, cụ Đảm liên tục dùng bàn tay xoa đều, đôi lúc cụ dùng cái môi gỗ đảo từ dưới đáy chảo cho ngọn chè ăn lửa đều rồi lại tiếp tục dùng tay xoa. Lâu lâu cụ lại bắc chảo đổ chè ra cái nia bên cạnh rồi vừa sàng vừa sẩy. Cụ bảo để lọc ra những cánh chè cháy, gãy vụn nếu không sàng sẩy kịp sẽ khét.
Khi ngồi bên chảo chè, cụ Đảm im lìm như một cái bóng. Động tác sao bằng tay như vậy khác với ngày nay, người ta dùng máy nhanh hơn nhiều nhưng chất lượng không thể bằng. Chỉ khi dùng trong gia đình người ta mới cầu kì sao sấy thủ công tỉ mẩn vậy. Hàng chợ ai làm được. Bởi vậy uống trà trong gia đình người trồng chè khác với uống trà ngoài quán. Sau này tôi còn có cảm nhận, không nhất thiết chỉ ở Tân Cương mới có trà ngon.
Có dịp uống trà ở nhiều vùng trồng chè trong tỉnh Thái Nguyên như Đại Từ, Trại Cài, Phú Lương, Định Hóa hay cả Quân Chu, Phổ Yên, Sông Công… nếu việc trồng trọt, tưới tắm và sao sấy kĩ càng thì chất lượng trà không hề thua kém.
Tôi còn có một kỉ niệm liên quan đến trà. Cách nay chừng 50, 60 năm, nghĩa là những năm 70 của thế kỉ trước khi ấy việc đem theo hàng hóa bên người là điều cấm kị vì Nhà nước không cho phép người dân buôn bán... Hàng hóa bị cấm gồm đủ thứ, trong đó có cả trà khô.
Người dân không được phép mang theo trà khô trong người, nếu là cán bộ lại càng nghiêm khắc. Vào dịp Tết năm đó khi còn nơi sơ tán tôi được phép về Hà Nội ăn Tết. Nghe nói ông bố vợ tôi nghiện trà nặng nên trước khi tôi về nghỉ gia đình anh Đảm gói cho tôi mấy lạng trà bảo để biếu cụ uống Tết.
Tất nhiên, tôi thích lắm nhưng cũng còn chút băn khoăn liệu có an toàn khi đi trên đường. Anh Đảm nói - "Có 2, 3 lạng trà quà Tết không ai bắt bớ gì đâu". Cẩn thận anh Đảm còn nói thêm: - “Chú cứ yên tâm tôi đã gói cẩn thận, không ai có thể biết được đâu”.
![]() |
| Chè xanh đất Thái. Ảnh: Ngọc Hải |
Tàu hỏa ngày Tết từ ga Đồng Quang về Hà Nội rất đông, khách trên tàu không có chỗ ngồi, phải chen chúc, sát vào nhau, như nêm, nhiều lúc chỉ được một chân đặt trên sàn tàu, muốn qua lại gần như không nổi. Nhưng tôi lại thấy may vì nghĩ, tàu đông thế này chắc sẽ không có người đi kiểm tra, may gói trà anh Đảm cho làm quà sẽ thoát.
Tôi sốt ruột vì thấy tàu cứ nặng nề bò trên đường. Nhưng bất ngờ khi tàu dừng lại ở ga Trung Giã thì có anh cán bộ thuế lù lù ở đâu bước lên toa. Tất nhiên anh cũng phải rất vất vả để lách người chen chúc nhưng với anh như đã quen. Anh ta đi qua.
Tôi thở phào khi thấy anh qua thật. Tưởng thoát, nhưng chưa kịp mừng thì thế nào vừa qua được mấy bước anh phòng thuế đã đột ngột quay lại nơi tôi đứng, đôi mắt săm soi các túi đồ đeo hành khách đeo bên người rồi cất tiếng như lệnh:
- Hành khách nào có mang theo trà thì báo mau”.
Anh nói đến lần thứ ba cũng không thấy ai nói gì. Quan sát một thoáng bất ngờ anh ta chỉ vào tôi
- Đồng chí mở túi cho chúng tôi kiểm tra.
Biết không chối cãi được rồi, lại không quen nói dối nên tôi chỉ biết trình bày:
- Tôi có được chủ nhà nơi sơ tán biếu mấy lạng trà về Hà Nội làm quà Tết”.
Tưởng anh thông cảm cho qua, nhưng dù cho tôi đã hết lời nài nỉ,vẻ mặt anh phòng thuế vẫn lạnh tanh:
- Mời đồng chí theo tôi lên gian trưởng tầu cho chúng tôi làm việc.
Tại buồng trưởng tầu, tôi đã bị thu ngay lập tức mấy lạng trà ngon anh Đảm biếu dù tôi đã hết lời. Ngày ấy mà bị mang tiếng là mua bán hàng lậu thì phiền phức, như người phạm tội, tiếng về cơ quan thì chỉ có cách kỉ luật, thậm chí ra khỏi biên chế nên dù ấm ức nhưng cuối cùng tôi phải miễn cưỡng chấp hành.
Tôi tiếc lắm nhưng thâm tâm rất phục, sao anh phòng thuế kia biết tôi mang trà. Tôi hỏi. Sau khi đã có gói trà trong tay, anh phòng thuế không giấu giếm: Khi đi ngang qua tôi đã ngửi thấy mùi thơm nên biết chắc ai đó mang theo trà. Nhìn thấy mặt anh khác đi nên đoán ra nhanh thôi.
Trà thơm ngon quá đôi khi cũng có nỗi khổ.
Nguồn: https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202603/lan-man-nho-tra-minh-ly-f8c1272/








Bình luận (0)