
Tranh dân gian Đông Hồ, nơi chứa đựng hồn cốt của dân tộc. Ảnh: Kim Sơn
Tranh dân gian Đông Hồ, dòng tranh khắc gỗ độc đáo khởi nguồn từ làng Đông Hồ, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm lịch sử. Không đơn thuần là sản phẩm thủ công mỹ nghệ, dòng tranh này đóng vai trò như tấm gương phản chiếu sinh động xã hội nông nghiệp Việt Nam cổ truyền, lưu giữ hồn cốt dân tộc qua từng thớ gỗ, nếp giấy.
Kỹ thuật chế tác bởi bàn tay nghệ nhân
Xét về mặt kỹ thuật, tranh Đông Hồ thuộc dòng tranh in từ ván khắc gỗ, quy trình sản xuất đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa tư duy thẩm mỹ và kỹ năng thủ công tinh xảo. Khác với lối vẽ tranh thông thường, tranh Đông Hồ được tạo tác thông qua hệ thống ván in, trong đó ván khắc gỗ đóng vai trò cốt lõi. Gỗ dùng để khắc ván phải là loại gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Công cụ chế tác là bộ ve (mũi đục) làm bằng thép cứng, mỗi bộ bao gồm khoảng 30 đến 40 chiếc với kích thước khác nhau, cho phép thực hiện các chi tiết phức tạp.

Vua Quang Trung cưỡi chiến mã được khắc họa trên tranh dân gian Đông Hồ. Ảnh: Kim Sơn
Điểm đặc sắc làm nên bản sắc không thể trộn lẫn của tranh Đông Hồ nằm ở chất liệu và màu sắc. Giấy in tranh là giấy dó truyền thống được sản xuất thủ công từ vỏ cây dó, bề mặt quét lớp hồ điệp chế từ vỏ sò điệp nghiền nhỏ, tạo nên sắc trắng ánh đặc trưng. Hệ thống màu sắc sử dụng trong tranh hoàn toàn có nguồn gốc tự nhiên, phản ánh sự gắn kết mật thiết giữa con người và thiên nhiên vùng châu thổ Bắc Bộ. Màu vàng được chiết xuất từ hoa hòe, màu đỏ thắm từ sỏi son hoặc gỗ vang, màu trắng từ bột vỏ sò điệp, màu đen từ than lá tre và màu xanh từ lá chàm. Đây là các gam màu cơ bản, nguyên bản và thường không pha trộn.
Quy trình in tranh tuân thủ nguyên tắc khắt khe về các lớp in ấn và kỹ thuật. Trước khi in, giấy dó được chuẩn bị thành tập lớn. Nghệ nhân sử dụng thét (chổi làm bằng lá thông) để quét màu lên bìa, sau đó áp dụng phương pháp "xếp ván" - tức là dập ván in xuống mặt bìa đã phết màu để mực thấm đều, rồi mới ấn mạnh ván lên giấy. Kỹ thuật in đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối để các mảng màu khớp với nhau mà không bị lệch. Nguyên tắc bất di bất dịch trong quy trình này là mỗi màu tương ứng với một bản gỗ khắc in riêng biệt; tranh mẫu có bao nhiêu màu thì cần bấy nhiêu bản in màu. Sau khi in xong từng màu và phơi khô, bản nét đen bao giờ cũng được in cuối cùng để hoàn thiện tác phẩm. Chính quy trình này tạo nên chiều sâu vật lý và thị giác cho bức tranh, khiến màu sắc như thấm đẫm vào thớ giấy, bền bỉ với thời gian.

Tranh Vinh quy bái tổ. Ảnh: Hải Nguyễn
Giá trị nghệ thuật sâu sắc
Về phương diện nghệ thuật, tranh Đông Hồ sở hữu ngôn ngữ tạo hình độc đáo với tính biểu trưng và trang trí cao. Bố cục tranh thường chặt chẽ, sử dụng đường nét tiết giản cùng mảng màu dẹt, đồng đều. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp mộc mạc và dung dị ấy là cả một hệ thống triết lý nhân sinh và phản ánh xã hội sâu sắc. Nội dung tranh Đông Hồ bao quát 7 loại hình chính gồm: Tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.
Thông qua các đề tài này, tranh Đông Hồ trở thành biên niên sử bằng hình ảnh về đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân Việt Nam xưa. Đó là ước vọng ngàn đời về cuộc sống gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc; là khát khao về xã hội công bằng, tốt đẹp; là những bài học đạo lý làm người và sự tôn vinh cái đẹp. Dưới góc nhìn mỹ học dân gian, tranh Đông Hồ không chỉ mang lại khoái cảm thẩm mỹ mà còn thực hiện chức năng giáo dục, lưu giữ vốn văn hóa truyền thống. Quá trình sáng tác mẫu tranh không phải là công việc cá nhân đơn lẻ mà là kết quả của trí tuệ tập thể, được kế thừa và hoàn thiện qua nhiều thế hệ nghệ nhân. Điều này lý giải vì sao có nhiều dị bản khác nhau cho cùng một đề tài, hoặc một mẫu tranh có thể có nhiều cách phối màu, thể hiện sự vận động và sáng tạo không ngừng của cộng đồng làng nghề.
Mặc dù mang trong mình giá trị lịch sử và văn hóa to lớn, nghề làm tranh Đông Hồ đã và đang trải qua những giai đoạn thăng trầm khắc nghiệt. Thời kỳ hoàng kim của dòng tranh này kéo dài từ thế kỷ 19 đến những năm 40 của thế kỷ 20, khi tranh Tết Đông Hồ là vật phẩm không thể thiếu trong mỗi nếp nhà. Tuy nhiên, biến động lịch sử sau năm 1945 khiến nghề tranh có lúc gần như bị xóa sổ. Từ con số 17 dòng họ làm tranh trong quá khứ, hiện nay làng nghề chỉ còn duy trì sự tồn tại yếu ớt với 2 dòng họ của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam. Thống kê mới nhất cho thấy số lượng nghệ nhân hiện chỉ còn 3 người, số người thực hành khoảng 20 người và chỉ còn 2 nghệ nhân cao tuổi có khả năng truyền dạy.

Nghệ nhân ở làng tranh Đông Hồ. Ảnh: Lê Bích
Từ danh hiệu Quốc gia đến sự vinh danh của UNESCO
Nhận thức rõ tầm quan trọng và tình trạng nguy cấp của di sản, chính quyền tỉnh Bắc Ninh cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp kịp thời. Năm 2012, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Đặc biệt, vào ngày 9.12.2025, tại kỳ họp lần thứ 20 diễn ra ở Ấn Độ, UNESCO đã chính thức ghi danh tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản thứ 17 của Việt Nam được vinh danh trên trường quốc tế. Việc ghi danh này không chỉ là lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị nghệ thuật và lịch sử độc đáo của dòng tranh Đông Hồ mà còn mở ra cơ hội lớn và đặt ra trách nhiệm nặng nề trong việc bảo vệ di sản này khỏi nguy cơ mai một.
Tỉnh Bắc Ninh đã ban hành các nghị quyết về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng khu quy hoạch riêng và giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện Dự án "Bảo tồn văn hóa phi vật thể làng tranh Đông Hồ". Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ khánh thành năm 2023 là bước tiến quan trọng, tạo không gian cho du khách tham quan, trải nghiệm và tìm hiểu quy trình làm tranh. Tuy nhiên, việc bảo tồn không thể chỉ dừng lại ở danh hiệu, mà cần giải quyết bài toán sinh kế bền vững cho cộng đồng chủ thể.

Nghệ nhân ở làng tranh Đông Hồ. Ảnh: Lê Bích
Thực tế du lịch tại làng tranh hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế. Dù đón hàng chục nghìn lượt khách mỗi năm, nhưng mô hình du lịch vẫn mang tính chất "ghé thăm - trải nghiệm nhanh", thiếu chiều sâu. Khách du lịch chủ yếu dừng chân trong thời gian ngắn để chụp ảnh, mức chi tiêu thấp, khiến lợi ích kinh tế chưa lan tỏa thực sự đến người làm nghề. Di sản đang bị tách rời khỏi không gian sống và nhịp sinh hoạt thực tế của cộng đồng, có nguy cơ trở thành nơi trình diễn thuần túy thay vì là một thực thể văn hóa sống động.
Để giải quyết bài toán bảo tồn và phát triển, việc xây dựng tuyến du lịch đường sông Đuống đang được xem xét như hướng đi chiến lược. Tuyến du lịch này không đơn thuần là giải pháp giao thông mà là cách tiếp cận di sản theo dòng chảy lịch sử - văn hóa. Sông Đuống kết nối làng tranh Đông Hồ với hệ thống di tích dày đặc như chùa Dâu, chùa Bút Tháp, lăng Kinh Dương Vương. Hành trình trên sông sẽ cho phép du khách thẩm thấu chậm rãi không gian văn hóa Kinh Bắc trước khi tiếp cận làng nghề.
Cách tiếp cận này cũng giúp chuyển đổi mô hình từ du lịch "check-in" sang du lịch trải nghiệm sâu. Du khách sẽ có đủ thời gian để tìm hiểu tường tận về giấy điệp, màu tự nhiên, kỹ thuật khắc ván dưới sự hướng dẫn trực tiếp của nghệ nhân. Khi đó, nghệ nhân không chỉ là người thợ trình diễn kỹ năng mà trở thành người truyền trao tri thức và ký ức cộng đồng. Mô hình này hứa hẹn tạo ra dòng khách ổn định, có chọn lọc, mở ra không gian tiêu thụ sản phẩm phù hợp với giá trị lao động thủ công, đồng thời giảm áp lực thương mại hóa trực tiếp lên không gian làng nghề.
Nguồn:https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/mau-dan-toc-tren-tranh-dong-ho-1653266.ldo






Bình luận (0)