Sau hơn một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, Việt Nam đã tạo dựng được nền tảng chính trị quan trọng để đổi mới tư duy và hành động trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng trưởng kinh tế đã từng bước chuyển dịch theo hướng xanh và bền vững; các mục tiêu về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đã được lồng ghép vào quy hoạch phát triển; công tác bảo vệ môi trường chuyển từ tư duy bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa và kiểm soát; từ mô hình phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên đang chuyển mạnh sang coi trọng chất lượng tăng trưởng và tính bền vững...
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển đang đặt ra những yêu cầu cao hơn. Môi trường không còn là lĩnh vực đi sau để xử lý hệ quả của tăng trưởng, mà đã trở thành điều kiện nền tảng để bảo đảm phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đang hành động quyết liệt hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao hơn, bền vững hơn, hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, việc ban hành một Nghị quyết mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là yêu cầu tất yếu khách quan.
Thực tiễn cho thấy, các vấn đề môi trường đang tác động ngày càng trực tiếp đến đời sống nhân dân, an ninh quốc gia và triển vọng phát triển dài hạn. Ô nhiễm không khí tại một số đô thị lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Xâm nhập mặn, sạt lở và sụt lún đất ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn đe dọa sinh kế của hàng triệu người dân và an ninh lương thực quốc gia. Ở nhiều khu công nghiệp, làng nghề và lưu vực sông, ô nhiễm vẫn chưa được xử lý triệt để... Điều đó cho thấy, nếu thiếu cơ chế quản trị hiệu quả, chi phí môi trường sẽ trở thành gánh nặng cho toàn xã hội.
Bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ là yêu cầu về sinh thái mà đã và đang ngày càng trở thành vấn đề của chiến lược phát triển quốc gia và là một tiêu chí cạnh tranh chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Dự thảo Nghị quyết mới, vì thế, được kỳ vọng sẽ xác lập một hệ tư duy phát triển và hành động nhất quán: bảo vệ môi trường là nền tảng của tăng trưởng, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu là điều kiện để bảo đảm sự ổn định, thịnh vượng lâu dài.
Để đáp ứng yêu cầu đó, dự thảo Nghị quyết mới cần xác định các mục tiêu rõ ràng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, gắn với các chỉ tiêu định lượng cụ thể về chất lượng môi trường, tỷ lệ xử lý chất thải, phục hồi hệ sinh thái, phát triển năng lượng tái tạo và tiến độ thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0... Đồng thời tạo đột phá về thể chế, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, đẩy mạnh công khai dữ liệu và giám sát xã hội. Quản trị môi trường hiện đại phải dựa trên hệ thống quan trắc đồng bộ, cơ sở dữ liệu quốc gia và ứng dụng công nghệ số để phát hiện sớm rủi ro và nâng cao chất lượng hoạch định chính sách.
Cùng với đó, cần phát triển thị trường carbon và hệ thống tài chính xanh để huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi. Thực tiễn từ Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, nếu chính sách được thiết kế đúng hướng, bảo vệ môi trường hoàn toàn có thể đi đôi với nâng cao thu nhập và giá trị gia tăng cho người dân.
Đặc biệt, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn nếu chỉ dựa vào các công cụ quản lý của nhà nước. Điều quan trọng hơn là phải hình thành được văn hóa ứng xử hài hòa với thiên nhiên, trong đó, mỗi người dân, doanh nghiệp, mỗi cộng đồng và mỗi người dân đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình. Khi những hành vi tưởng chừng rất đơn giản như phân loại rác tại nguồn, hạn chế nhựa dùng một lần hay sử dụng tiết kiệm tài nguyên trở thành thói quen xã hội, các mục tiêu phát triển bền vững sẽ được thực hiện một cách bền vững.
Dự thảo Nghị quyết mới cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ mô hình phát triển mới, trong đó tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống được đặt trong một chỉnh thể thống nhất. Khi môi trường được coi là tài sản chiến lược của quốc gia, mọi quyết định đầu tư và phát triển đều sẽ phải được cân nhắc trên cơ sở lợi ích lâu dài của đất nước.
Nói cách khác, dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương sẽ là bản thiết kế chiến lược cho một giai đoạn phát triển mới: phát triển nhanh nhưng không đánh đổi môi trường, tăng trưởng cao nhưng vẫn bảo đảm chất lượng cuộc sống, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững nền tảng phát triển bền vững cho các thế hệ mai sau.
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/moi-truong-nen-tang-cho-tang-truong-ben-vung-10417250.html








Bình luận (0)