Trong sự tích về Bà có nói: “Tại Trảng Bàng, có cô gái tên Lý Thị Thiên Hương, con của ông Lý Thiên và bà Đặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Định vào Trảng Bàng lập nghiệp” (Vương Công Đức (2014), Trảng Bàng phương chí, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 621). Từ truyền miệng dân gian, đến nay vẫn không ai rõ về thân thế gia đình. Tuy nhiên, vùng đất Trảng được xem là quê hương của Bà. Gần trăm năm nay, người dân địa phương đã lập miếu và hằng ngày khói nhang nghi ngút phụng thờ Linh Sơn thánh mẫu - vị nữ thần bảo hộ cho cư dân.
Ngôi miếu có tên chữ “Linh Sơn thánh miếu” nay thuộc khu phố Lộc An, phường Trảng Bàng, phụng thờ Linh Sơn thánh mẫu (Bà Đen), được người dân Trảng Bàng lập nên vào năm 1932. Miếu tọa lạc bên giếng mạch - nguồn nước trong lành nuôi dưỡng cả vùng qua bao thế hệ, nên dân gian còn gọi nơi đây là “miếu Bà Giếng Mạch”. Ban đầu, ngôi miếu nhỏ được dựng bằng gỗ, mái lợp ngói, trong miếu thờ cốt tượng Bà bằng gỗ cao khoảng 60cm, 2 bên có người hầu cận. Đến năm 1999, miếu được trùng tu và giữ nguyên kiến trúc như ngày nay.
Về kiến trúc, miếu được xây dựng khang trang bằng vật liệu bê tông, cốt thép, lợp ngói với diện tích khoảng 300m2 gồm: sân miếu, tiền điện, chánh điện và nhà bếp. Nơi sân miếu có bàn thờ Thông Thiên vọng thờ Trời, đây là tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Nam Bộ. Giữa sân miếu là giếng mạch, nguồn nước sinh hoạt của người dân trong vùng trước đây nên trong tâm thức dân gian còn cho rằng giếng mạch bắt nguồn từ núi Bà Đen, trên núi lại có Bà cai quản, từ đó lập miếu Bà bên cạnh giếng để cầu mong Bà phù hộ cho nguồn nước của giếng mạch tồn tại lâu dài. Nước từ giếng mạch từng góp phần tạo nên đặc sản bánh canh Trảng Bàng. Nước lèo của món bánh canh được nấu bằng vị ngọt thanh từ nguồn nước giếng, làm nên hương vị đặc trưng khó quên.
Hai bên sân miếu, bên phải (từ ngoài nhìn vào) có miếu thờ Thủy Long tức Bà Thủy, miếu đặt nơi đây được hiểu là vị nữ thần cai quản giếng mạch. Bên trái là miếu thờ cô hồn, tín ngưỡng này thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của người Việt nhằm bố thí, chia sẻ thức ăn cho những vong linh vất vưởng không bị đói khát và sớm được siêu thoát.
Mặt tiền miếu bên trên đắp nổi tên miếu “Linh Sơn thánh miếu” 2 bên có cặp đối chữ Nho “Linh hiển ân thâm dân đề lạc/ Sơn cao vũ lộ nhân uân thịnh”, khoán thủ của mỗi câu ghép lại là “Linh Sơn” tức danh hiệu của Bà cùng ý nghĩa thần linh hiển ứng, ơn sâu giúp cho nhân dân được bình an, vui vẻ; núi cao, mưa móc hòa quyện tốt tươi thịnh vượng. Dưới cặp đối có lạc khoản đề năm “11/4/1970 - Canh Tuất”. Hai bên mặt tiền trang trí các bông gió chữ “Hạnh”, chữ “Thọ” với ý nghĩa cầu chúc phúc lành, may mắn và sống lâu. Trên nóc miếu có gắn tượng lưỡng long tranh châu thuộc dòng gốm Cây Mai Sài Gòn xưa.
Tiền điện là một không gian rộng. Vào ngày thường, nơi đây được sử dụng để tiếp khách ở gian bên phải. Vào những ngày cúng, không gian này trở thành nơi đặt lễ vật do người dân mang đến dâng cúng, lễ bái, đồng thời diễn ra các hoạt động diễn xướng dân gian bóng rỗi cúng Bà. Nơi tiền điện có bức hoành phi đề hiệu miếu do ông Trịnh Thạch Kỳ phụng cúng vào năm Kỷ Mão (1999) tức năm trùng tu ngôi miếu, bức hoành có nội dung “Linh Sơn thánh miếu” cùng lạc khoản “Kỷ Mão niên kiết nhựt” (ngày lành năm Kỷ Mão) và “Mộc ân đệ tử Trịnh Thạch Kỳ kính phụng” (đệ tử gội nhuần ơn đức Trịnh Thạch Kỳ kính cẩn dâng cúng); trên bức hoành có dòng chữ quốc ngữ “Xây dựng 1932 - Trùng tu 1999” đánh dấu 2 mốc lịch sử quan trọng của ngôi miếu. Hai bên có cặp đối khoán thủ Linh Sơn “Linh Thứu truyền lai kinh giai nghiệm/ Sơn long quật khởi địa xưng kỳ”, có nghĩa nơi thánh địa truyền lại, mọi lời kinh sấm đều linh ứng; thế núi rồng bay trỗi dậy, đất được khen là kỳ vĩ.
Dẫn vào chánh điện, phía trước bàn thờ Bà có đặt hương án thờ Quốc vương, hay hiểu đầy đủ là Quốc vương thủy thổ. Bàn thờ này thể hiện sự tri ân và đền đáp công ơn của đất nước, xuất phát từ tình yêu quê hương, đồng thời là nơi cầu nguyện cho quốc thới dân an, mưa thuận gió hòa. Hai bên bàn thờ có cặp đối “Nhuận hữu cam tuyền nguyên viễn lưu kim cổ/ Đức xưng chí đạo hạnh cao bạc vân thiên” có nghĩa thấm nhuần có dòng suối ngọt, nguồn xa chảy suốt từ xưa đến nay; đức ca ngợi bậc chí đạo, phẩm hạnh cao dày chạm đến tận chín tầng mây.
Chính giữa là khánh thờ Linh Sơn thánh mẫu (Bà Đen), gồm ba bức tượng Linh Sơn thánh mẫu và hai người hầu cận. Người hầu nam mặc giáp, tay bưng ấn; người hầu nữ cung kính cầm quạt. Tượng Bà có gương mặt phúc hậu, đầu đội mão, mặc áo bào, tay cầm hốt. Cả 3 bức tượng đều được tạc lại theo nguyên mẫu tượng xưa của miếu với kích thước lớn hơn. Khánh thờ Bà hiện nay do gia đình ông Lê Văn Minh và bà Trần Thị Ni ở khu phố An Khương, phường An Tịnh phụng cúng vào năm 2024. Hai bên là các bàn thờ Tả ban, Hữu ban, Thổ thần cùng các đồ thờ đại cổ, hồng chung (trên thân chuông có khắc tên miếu).
Đặc biệt, bên cạnh Quan Thánh đế quân, Thiên Hậu thánh mẫu, Quảng Trạch tôn vương, Phước Đức chánh thần,... người Hoa ở Trảng Bàng rất kính tin Linh Sơn thánh mẫu. Vào năm 1951, hội Hòa An của người Hoa Thất Phủ dâng cúng miếu bức hoành phi có nội dung “Thiên thu thánh mẫu” là lời tôn vinh sự linh thiêng, cao cả và trường tồn của đức bà Linh Sơn, cùng lạc khoản “Cung hạ tuế thứ Tân Mão niên bát ngoạt kiết nhựt tạo” (ngày tốt tháng 8 năm Tân Mão) và “Hồng ân Thất Phủ Hòa An hội bổn hội đồng kính bái”. Hiện nay, bức hoành phi này được treo trang trọng nơi khánh thờ Bà.
Lễ vía Bà hằng năm được tổ chức vào ngày mùng 05-06/5 (nông lịch) gồm các nghi thức mộc dục (tắm tượng Bà), thay áo mão, cúng tiên thường, tụng kinh cầu an theo nghi thức Phật giáo, diễn xướng dân gian bóng rỗi cúng Bà và mùng 06/6 chánh lễ vía Linh Sơn thánh mẫu do Ban Hội miếu tế lễ.
Nhiều năm nay, phần bóng rỗi cúng Bà do Nghệ nhân dân gian Ngọc Phượng và nghệ nhân Phan Thị Hồng Diễm (hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thật tỉnh Tây Ninh) đảm trách. Dịp này, các Ban Quý tế đình miếu, người dân trong và ngoài địa phương đến viếng Bà rất đông, có năm lên đến 200-300 người. Mọi người đến miếu cúng Bà đều được Ban Hội miếu tặng lộc là bánh, xôi, trái cây cúng Bà hay bao lì xì đỏ bên trong có đóng ấn của miếu.
Ngôi miếu nơi quê Bà không chỉ là một thiết chế tín ngưỡng dân gian, mà còn là biểu tượng văn hóa - lịch sử gắn liền với tiến trình hình thành và phát triển cộng đồng tại Trảng Bàng. Qua việc thờ tự, nghi lễ và diễn xướng dân gian, miếu đã trở thành không gian lưu giữ ký ức tập thể, phản ánh sự tri ân đối với tiền nhân và khát vọng về cuộc sống an cư lạc nghiệp.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị của ngôi miếu chính là góp phần giữ gìn ký ức lịch sử, nuôi dưỡng niềm tự hào quê hương, đồng thời tạo nên sức mạnh tinh thần cho cộng đồng trong hiện tại và mai sau./.
Nguồn: https://baotayninh.vn/ngoi-mieu-noi-que-ba-149473.html







