Ông Khuỳnh đã trở về sau những năm tháng bôn ba. Tin ấy lan khắp làng nhanh hơn cả tiếng loa truyền thanh. Người già bảo, thằng Khuỳnh ngày xưa bỏ làng đi làm kinh tế ở vùng đất mới giờ giàu lắm. Người trẻ tò mò hỏi, có phải ông từng đi bộ đội không? Chỉ riêng ông Quân là ngồi im trong sân, châm hết điếu thuốc này đến điếu khác. Bà Hiên đứng cạnh bếp lửa, khẽ hỏi chồng: “Ông… có sang gặp ông ấy không? Ông Quân gắt: “Gặp làm gì!”, nhưng bàn tay cầm chén nước của ông run nhẹ.
***
Thời trẻ, ông Khuỳnh, ông Quân và bà Hiên chơi với nhau rất thân. Họ lớn lên cùng nhau, cùng chăn trâu, tắm suối, lớn thêm chút nữa thì cùng tham gia đoàn thanh niên, đi đắp đường, gặt lúa giúp hợp tác xã. Ngày ấy, bà Hiên là người đẹp nhất làng; ông Khuỳnh là người ai cũng quý, bởi tính tình khiêm tốn, ít nói, lại chăm chỉ và sống tình nghĩa; ông Quân thì tháo vát, khéo ăn nói, nhanh nhẹn hơn người. Cả hai ông đều mến bà Hiên, nhưng không ai nói ra. Cho đến một buổi tối hội làng năm ấy, trăng sáng vằng vặc, sau chương trình văn nghệ, bà Hiên đi bộ về qua con đường ven suối, ông Khuỳnh lặng lẽ theo sau. Đến gốc mận đầu làng, ông bỗng gọi: “Hiên”. Bà quay lại. Lần đầu tiên ông Khuỳnh dám nắm tay bà. Bàn tay người con gái run lên. Ông nói rất khẽ: “Nếu tôi sang nhà bà mối… Hiên có đồng ý không?”
Bà Hiên đỏ bừng mặt, cúi đầu: “Ai mà biết được...” Lúc ấy, ngay phía sau lùm cây có tiếng cành khô gãy “rắc”. Ông Quân đứng đó, khuôn mặt tái đi. Từ đêm ấy, mọi thứ bắt đầu đổi khác.
***
Rồi chiến tranh chống Mỹ đến thời kỳ ác liệt, ông Khuỳnh xung phong nhập ngũ. Trước ngày đi, ông tìm gặp bà Hiên. Ông lấy trong túi áo ra chiếc khăn tay bộ đội màu xanh: “Tôi gửi Hiên giữ hộ. Khi nào về… tôi lấy lại.” Nước mắt bà Hiên rơi xuống mu bàn tay ông: “Anh phải sống mà về”. Ông Khuỳnh cười: “Nhất định rồi”.
Nhưng chiến tranh khốc liệt hơn tất cả những gì họ nghĩ. Một năm sau, giấy báo tử gửi về làng, tin ông Khuỳnh hy sinh khiến bà Hiên ngất lịm giữa sân hợp tác. Suốt gần hai năm, bà sống như cái bóng, chính ông Quân là người ở bên chăm sóc, đỡ đần mẹ bà Hiên khi đau ốm, giúp cày cấy ruộng nương. Một đêm mưa mùa hạ, bà Hiên khóc: “Em có lỗi với anh Khuỳnh…” Ông Quân siết chặt tay: “Người chết rồi… người sống phải sống tiếp chứ”. Rồi họ thành vợ chồng.
***
Ba năm sau. Một chiều tháng Chạp, cả làng chết lặng khi thấy một người mặc áo lính, gầy gò, vai khoác ba lô đi từ đầu dốc Pò Mạ vào làng. Là ông Khuỳnh. Ông không chết, chỉ bị thương rất nặng, mất liên lạc đơn vị rồi điều trị suốt thời gian dài.
Điều đầu tiên ông Khuỳnh hỏi khi về làng là: “Hiên đâu?” Không ai trả lời. Cho đến lúc ông nhìn thấy bà Hiên đang bế con đứng cạnh ông Quân ngoài sân. Chiếc khăn tay năm xưa bà vẫn còn giữ. Đêm ấy, ông Khuỳnh uống rượu đến ngất ngoài hiên. Sáng hôm sau, ông sang nhà ông Quân. Cả làng hồi hộp, ai cũng sợ đánh nhau. Nhưng không, ông Khuỳnh chỉ đặt lại chiếc khăn tay lên bàn rồi nói: “Từ nay… tôi trả cô ấy lại cho ông”, rồi quay đi. Ông Quân đứng chết lặng.
Một tháng sau, ông Khuỳnh rời làng đi Tây Nguyên. Người ta bảo ông đi vì nghèo, chỉ ông Quân biết không phải. Ông đi vì trái tim không còn chỗ đứng.
***
Ba mươi năm sau, ông Khuỳnh trở về. Làng Pò Mạ giờ đã khác xưa nhiều nhưng lòng người lại chật hẹp hơn. Họ ganh nhau từng mét đất, chấp nhau từng câu nói. Ba đời trưởng thôn xin nghỉ vì họp thôn lần nào cũng cãi nhau như chợ. Trong thôn hình thành hai phe ngầm đối đầu nhau, chỉ chờ dịp là bùng lên cãi vã, hơn thua. Lãnh đạo xã đau đầu mãi không giải quyết được. Đúng lúc ấy, ông Khuỳnh trở về. Ông sửa nhà, góp tiền làm cống thoát nước, thuê máy xúc mở rộng đường nội đồng, người ta bắt đầu quý ông.
Người làng càng quý ông Khuỳnh bao nhiêu, ông Quân càng khó chịu bấy nhiêu. Ông Quân luôn có cảm giác người đàn ông kia vừa trở về đã cướp mất sự nể trọng mà bao năm ông cố gây dựng. Một buổi họp thôn, thấy mọi người khen ông Khuỳnh, ông Quân nhếch mép: “Đi xa giàu có về thì ai chả nói hay”. Cả nhà văn hóa im lặng. Ông Khuỳnh chỉ cười: “Tôi về sống tuổi già thôi, có tranh phần ai đâu”. Nhưng ông Quân vẫn không yên. Ông nghe người ta bàn chuyện đưa ông Khuỳnh làm trưởng thôn nên càng bực bội. Nhiều lần ông nói xấu sau lưng: “Giàu thì giàu thật, nhưng đi biệt mấy chục năm biết gì chuyện làng”.
Có lần ông Quân còn xúi người tranh chấp mảnh vườn nhà ông Khuỳnh. Người ta kéo đến cãi vã om sòm. Ai cũng tưởng ông Khuỳnh nổi nóng, không ngờ ông chỉ rót nước, rồi nhẹ nhàng: “Có gì ngồi xuống nói, hàng xóm với nhau cả”. Cách cư xử ấy khiến người ta càng nể.
***
Sống ở làng Pò Mạ bao nhiêu năm nay, điều làm ông Quân bận lòng nhất là chuyện con ngõ sau nhà. Nhà ông Quân nằm sâu phía trong, đường đi hẹp, ông muốn mua thêm năm chục mét đất kéo dài theo ngõ của ông Quyết em ông Khuỳnh để mở rộng lối vào nhưng ông Quyết nhất nhất không bán. Hai bên lời qua tiếng lại mấy năm trời, ông Quân tức lắm nhưng không làm gì được.
Cho đến một chiều ngày đầu xuân, ông Quân bất ngờ sang nhà ông Khuỳnh. Ông đứng ngoài sân hồi lâu mới đánh tiếng: “Ông Khuỳnh… có nhà không?” Ông Khuỳnh đang tưới cây, thấy bạn cũ thì cười: “Vào uống nước. Hôm nay “rồng lại đến nhà tôm cơ à”.
“Biết ông về đã lâu nhưng hôm nay tôi mới sang được, ông đừng trách tôi nhé!”. Nói rồi ông Quân ngồi mà tay cứ vò vò gấu áo, mãi mới nói tiếp: “Tôi… có việc muốn nhờ ông”. Ông Khuỳnh rót trà: “Ông cứ nói”. Ông Quân ngập ngừng: “Chuyện đất ngõ nhà tôi… ông nói giúp chú Quyết được không?” Nói xong, ông cúi gằm mặt như sợ bị từ chối. Ông Khuỳnh im lặng rất lâu. Ông biết hết. Biết người đàn ông trước mặt từng ganh ghét mình thế nào, nói xấu, đặt đủ điều ra sao, nhưng cuối cùng ông chỉ hỏi: “Ông thật lòng muốn mở đường để đi lại cho tiện hay còn chuyện gì khác?”
Ông Quân thở dài: “Tôi già rồi, sau này con cháu xe cộ vào không nổi. Với lại, tôi cũng mệt mỏi chuyện xích mích mãi.” Ông Khuỳnh khẽ gật đầu: “Được, để tôi nói thử”.
Chiều tối hôm ấy, ông Khuỳnh gọi ông Quyết sang. Nghe nhắc đến bán đất cho ông Quân, ông Quyết phản đối ngay: “Em không bán! Ông ấy trước giờ có coi ai ra gì đâu”. Ông Khuỳnh chậm rãi: “Nhưng chú nghĩ xem, mở rộng cái ngõ ấy thì cả xóm cùng tiện. Chú vừa có tiền lại được tiếng nhân nghĩa, sống đẹp”.
“ Nhưng ông ấy… quá đáng, luôn đối xử quá tệ với anh”.
“Đời người ngắn lắm chú Quyết ạ, hơn nhau câu nhịn thôi”.
Ông Quyết vẫn bực: “Em chỉ sợ người ta được đằng chân lân đằng đầu”. Ông Khuỳnh cười hiền: “Nếu ai cũng nghĩ phần mình trước thì làng này mãi chẳng khá lên được”. Câu nói ấy khiến ông Quyết im lặng. Vài ngày sau, ông đồng ý bán đất.
Khi cầm giấy thỏa thuận trên tay, ông Quân lặng người nhìn ông Khuỳnh rất lâu rồi bất ngờ nói: “Tôi từng tìm cách hại ông… ông biết cả đúng không?” Ông Khuỳnh cười nhẹ: “Biết”.
“Thế sao ông vẫn giúp tôi?”
Ngoài sân, gió xuân lay nhè nhẹ giàn mướp. Ông Khuỳnh nhìn xa xăm: “Vì ngày trẻ… ông từng là người anh em tốt của tôi”. Ông Quân đỏ hoe mắt, giọng nghẹn lại: “Tôi thua ông thật rồi”.
Đêm ấy, ông Quân uống rượu một mình rồi sang nhà ông Khuỳnh. Hai người ngồi đến khuya. Lần đầu tiên sau mấy chục năm, họ nhắc lại chuyện cũ. Ông Quân nói: “Hồi biết ông với bà Hiên thương nhau… tôi ghen lắm”. Ông Khuỳnh cười buồn: “Chuyện qua rồi”.
Có lúc tôi nghĩ… “giá ngày ấy ông đừng trở về”.
Không khí chùng xuống. Một lúc lâu, ông Khuỳnh mới nói: “Tôi chưa từng trách ông hay bà Hiên. Người sống phải bước tiếp thôi”. Ông Quân bật khóc như đứa trẻ.
Ở tuổi ấy, nước mắt đàn ông hiếm lắm.
***
Từ sau chuyện bán đất, ông Quân thay đổi hẳn. Ông không còn nói xấu hay gây chuyện. Họp thôn, chính ông đứng lên nói: “Tôi đề nghị bầu ông Khuỳnh làm trưởng thôn. Người như ông ấy mới đủ đức, đủ tài để tập hợp được bà con”. Cả hội trường im lặng vài giây rồi tiếng vỗ tay vang lên. Người già trong làng mừng rỡ. Ông Khuỳnh làm trưởng thôn từ đó. Ông không hứa điều gì lớn lao mà bắt đầu bằng những việc nhỏ. Ông đi từng nhà vận động giữ vệ sinh đường làng, hướng dẫn bà con trồng quế, trồng thông, nuôi ong, trồng cây ăn quả thay vì bỏ ruộng hoang. Ông huy động thanh niên sửa sân bóng cũ để tăng cường luyện tập thể thao, nâng cao sức khỏe.
Ông bảo: “Làng muốn khá thì phải đoàn kết trước”. Có hộ nghèo nhà bị tốc mái sau bão, chính ông vác ngói đi lợp. Có nhà tranh chấp đất, ông ngồi hàng giờ phân tích đúng sai. Nhiều đêm mùa đông, trời lạnh thấu xương, người ta vẫn thấy ánh đèn nhà ông sáng tới khuya vì bà con đến nhờ giải quyết việc. Dần dần, làng Pò Mạ đổi khác thật. Người ta bớt chấp nhặt nhau. Hai bên đường vào thôn được trồng hoa, hàng nối hàng dài theo từng tháng. Tiếng cười trong các buổi họp thôn cũng nhiều hơn.
Một chiều cuối năm, bà Hiên mang sang nhà ông Khuỳnh rổ bánh khảo. Bà cười hiền: “Ông giờ thành người của cả làng rồi”. Ông Khuỳnh đón lấy, khẽ cười: “Già rồi… làm được gì cho làng thì làm thôi”. Bà Hiên nhìn mái tóc bạc của ông, mắt chợt buồn: “Hồi trẻ… nếu khác đi…” Ông Khuỳnh ngắt lời nhẹ nhàng: “Thì chắc cũng vẫn vậy thôi”. Bà Hiên im lặng.
Ngoài sân, tiếng trẻ con chơi đùa vang lên. Ông Khuỳnh chậm rãi nói: “Người ta sống cả đời, cuối cùng cũng chỉ mong lòng mình yên. Tôi giờ thấy thế này là đủ rồi”. Bà Hiên nhìn người đàn ông trước mặt mà sống mũi cay cay.
Có những tình cảm đi hết cả đời cũng không gọi thành tên được nữa. Nhưng chính vì không thuộc về nhau, nên lại hóa thành điều đẹp nhất để nhớ.
***
Năm ấy, làng Pò Mạ được công nhận thôn văn hóa tiêu biểu, nông thôn mới kiểu mẫu của xã. Hôm nhận bằng khen, ông Khuỳnh đứng phía dưới nhường người khác lên sân khấu. Ông Quân kéo tay ông bạn già: “Ông lên đi”. Ông Khuỳnh lắc đầu: “Công của cả làng mà”. Ông Quân nhìn ông hồi lâu rồi cười: “Cả đời tôi hơn thua đủ thứ. Cuối cùng mới hiểu, người thắng thật sự là người biết nhường”.
Chiều muộn, hai ông già cùng đi bộ trên con đường mới mở rộng sau nhà. Con ngõ ngày xưa chật hẹp giờ xe ô tô đi lọt, trẻ con chạy lon ton phía trước, khói bếp bay lên từ những mái nhà. Ông Khuỳnh chậm bước nhìn làng quê trong ánh hoàng hôn đỏ sẫm. Ông thấy lòng mình bình yên đến lạ. Sau bao năm bôn ba, cuối cùng ông cũng đã thật sự trở về.
Nguồn: https://baolangson.vn/nguoi-tro-ve-cuoi-doc-po-ma-5093530.html








Bình luận (0)