
Cánh đồng lúa chín ở Vĩnh Phong. Ảnh: PHẠM HIẾU
Ngày ấy, mùa lúa chín không chỉ là mùa vụ của người lớn mà còn là khoảng thời gian đặc biệt trong tuổi thơ của tôi. Khi những ruộng lúa bắt đầu ngả vàng, cha tôi thường nói: “Sắp tới mùa gặt rồi đó”. Câu nói giản dị ấy lập tức khiến cả nhà trở nên bận rộn. Cha chuẩn bị lưỡi hái. Mẹ vá lại những chiếc bao đựng lúa, chuẩn bị dây chuối. Còn 4 anh em tôi thì nôn nao chờ ngày được theo cha mẹ ra đồng.
Gia đình tôi khi ấy còn chật vật. 6 miệng ăn chỉ trông chờ vào 10 công ruộng. Vì vậy, mỗi vụ lúa đến đều mang theo rất nhiều hy vọng. Cả nhà chỉ mong mưa thuận gió hòa, ít sâu bệnh, chuột đừng phá hoại để lúa trúng mùa. Một vụ lúa tốt không chỉ mang lại niềm vui mà còn giúp gia đình có tiền trang trải sinh hoạt trong nhiều tháng sau đó.
Buổi sáng mùa gặt bắt đầu rất sớm. Khi trời mờ sáng, cha đã gọi tôi dậy. Không khí buổi sớm mát lạnh, sương còn đọng trên những tán lá ven kênh. Chúng tôi đi bằng xuồng, cha chống sào dọc theo con mương dẫn ra cánh đồng. Mặt nước lúc ấy phẳng lặng, tiếng gió nhẹ lướt qua, cả nhà tôi trò chuyện rôm rả.
Cánh đồng lúa chín hiện ra trước mắt với màu vàng trải dài đến tận chân trời. Những bông lúa nặng hạt cúi đầu. Gió thổi qua làm cả cánh đồng gợn lên như những con sóng nhỏ. Cha nhìn ruộng lúa rồi nói khẽ: “Năm nay chắc được mùa”. Còn tôi chỉ thấy cánh đồng đẹp như một bức tranh rộng lớn.
Ngày đó, việc gặt lúa vẫn chủ yếu dựa vào sức người. Cha mẹ cầm chiếc lưỡi hái nhỏ, khom người cắt từng bụi lúa rồi gom lại thành từng nắm. Các anh tôi buộc lúa thành từng bó gọn gàng. Tôi thì loanh quanh phụ những việc lặt vặt như gom lúa hoặc kéo những bó lúa lại gần. Công việc không hề nhẹ, nhưng đối với một đứa trẻ mới 10 tuổi như tôi đó lại giống như một chuyến trải nghiệm thú vị giữa cánh đồng rộng lớn.
Mặt trời lên cao cũng là lúc cánh đồng trở nên nóng hơn. Những giọt mồ hôi lăn trên trán cha, thấm vào chiếc áo đã bạc màu vì nắng. Mẹ thỉnh thoảng dừng tay lau mồ hôi rồi lại tiếp tục cắt lúa. Còn tôi thì đôi lúc ngồi nghỉ trên bờ ruộng, có khi đi hái trái cây rừng. Lúc ấy, nhìn cha mẹ và các anh cần mẫn giữa ruộng lúa vàng, tôi vẫn chưa hiểu hết được sự vất vả của họ.
Đến gần trưa, cả nhà thường ngồi nghỉ dưới bóng cây trên bờ mương. Bữa trưa khi ấy rất đơn giản, chỉ là cơm nguội mang theo thêm ít cá kho, vài quả dưa leo hoặc dĩa rau luộc. Nhưng sau buổi sáng làm việc giữa cánh đồng, bữa cơm ấy lại ngon lạ thường. Cha thường nói đùa rằng cơm ăn ngoài ruộng lúc nào cũng ngon hơn ở nhà. Tôi vừa ăn vừa nhìn ra cánh đồng lúa vàng óng trước mặt, thấy lòng vui đến lạ.
Buổi chiều, khi gió bắt đầu thổi nhẹ hơn, nắng dịu xuống, việc cắt lúa lại tiếp tục. Những bó lúa được chuyển xuống xuồng, xếp thành từng hàng gọn gàng. Chiếc xuồng dần đầy lên theo từng chuyến lúa, cha chống xuồng chuyển lúa đến nơi cao ráo, đợi máy suốt lúa tới suốt.
Những ngày gặt lúa cũng là lúc nhà tôi bận rộn nhất. Sau khi suốt lúa xong, từng bao lúa được khiêng về chất trước sân hoặc sau hè. Có những lúc lúa chưa kịp bán, cha tôi lại giăng mùng ngủ cạnh những bao lúa mới. Chiếc mùng cũ được mắc tạm ở khoảng đất nhỏ, bên cạnh là những bao lúa còn thơm mùi rơm rạ. Cha nói vui rằng phải “giữ của”, vì những bao lúa ấy là công sức mấy tháng trời của cả gia đình.
Không phải mùa lúa nào cũng trọn vẹn như mong muốn. Có những năm lúa bị sâu bệnh, có năm lại gặp mưa gió bất thường khiến năng suất giảm đi. Sau khi bán lúa, trừ hết chi phí phân, thuốc, tiền thuê máy suốt, số còn lại chẳng là bao. Những lúc như vậy, cha mẹ thường ngồi lặng lẽ ngoài hiên nhà. Dù có chút buồn, nhưng họ không than vãn nhiều. Cha chỉ nhẹ nhàng nói với mẹ: “Mùa vụ sau mình ráng chăm sóc ruộng tốt hơn, trời thương thì năm sau sẽ khá hơn”.
Lúc ấy, tôi còn nhỏ nên chưa hiểu hết nỗi lo của cha mẹ. Chỉ đến khi trưởng thành, tôi mới nhận ra phía sau những mùa lúa ấy là biết bao nhọc nhằn và hy vọng. Mỗi vụ lúa đều gắn với ước mong giản dị của cha mẹ: Có đủ gạo ăn, có tiền cho con đi học và cuộc sống bớt chật vật hơn một chút.
Sau mỗi ngày gặt lúa, sân nhà lại phủ đầy lúa phơi. Mẹ dùng cào đảo lúa cho khô đều, còn chúng tôi chạy nhảy quanh sân, đôi khi nghịch ngợm vẽ những vòng tròn nhỏ trên lớp lúa vàng. Buổi tối, cả nhà ngồi trước hiên, gió từ cánh đồng thổi vào mát rượi, mang theo mùi rơm rạ quen thuộc. Cha kể chuyện mùa vụ, mẹ nhắc ngày mai còn ra đồng sớm, còn tôi thì lim dim ngủ vì mệt sau một ngày dài ngoài ruộng.
Thời gian trôi qua, nhiều điều ở quê đã thay đổi. Máy gặt đập liên hợp thay thế cho những chiếc lưỡi hái ngày xưa, việc thu hoạch lúa nhanh hơn rất nhiều. Nhưng mỗi khi nhìn thấy cánh đồng lúa chín, tôi vẫn nhớ đến những mùa gặt năm cũ, khi cha mẹ còn lưng áo ướt mồ hôi giữa ruộng, khi chiếc ghe nhỏ chở đầy lúa chạy chậm trên con kênh và khi cha giăng mùng ngủ cạnh những bao lúa mới trước sân nhà.
Tuổi thơ của tôi lớn lên giữa những mùa lúa như thế. Những mùa lúa vàng đã nuôi 4 anh em tôi khôn lớn, nuôi cả những ước mơ giản dị của một gia đình chỉ có 10 công ruộng làm kế sinh nhai. Chúng tôi được đi học và trưởng thành trong sự tảo tần của cha mẹ.
Dù thời gian trôi qua và nhiều điều ở quê đã đổi thay, mỗi lần nhìn thấy cánh đồng lúa chín tôi lại nhớ đến những mùa gặt năm cũ. Chính những thửa ruộng ấy đã nuôi lớn tuổi thơ tôi và nhiều đứa trẻ quê nghèo khác. Giữa bước chuyển mình của quê hương hôm nay, ruộng lúa vẫn là tài sản quý giá, là mồ hôi và là nguồn sống của biết bao gia đình nông dân. Với tôi, màu vàng của lúa chín vẫn luôn là màu của ký ức, của quê hương mà tôi luôn trân trọng.
NGUYỄN KHÁNH
Nguồn: https://baoangiang.com.vn/nho-mua-lua-chin-a479223.html






Bình luận (0)