Kinh tế số và vai trò của phụ nữ
Thế nào là kinh tế số?
Kinh tế số được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) mô tả kinh tế số là tất cả hoạt động kinh tế được số hóa, bao gồm việc sử dụng công nghệ số và dữ liệu số trong sản xuất và dịch vụ, cũng như sản phẩm và dịch vụ số hóa được tiêu thụ bởi các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ.
Về tổng thể, kinh tế số là thuật ngữ chỉ các hoạt động kinh tế được thực hiện thông qua sử dụng công nghệ số, internet và các nền tảng kỹ thuật số. Kinh tế số bao gồm các hoạt động, như thương mại điện tử, dịch vụ tài chính trực tuyến, tiếp thị số, sản xuất kỹ thuật số và dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Mục tiêu của kinh tế số là tăng cường hiệu quả, tính cạnh tranh và sự kết nối trong kinh doanh và xã hội bằng cách sử dụng công nghệ số để tạo ra giá trị mới và cải thiện quy trình truyền thống.
Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế số là: Sự kết nối toàn cầu; sức mạnh dữ liệu và thông tin là yếu tố then chốt; kinh doanh linh hoạt, tập trung vào trải nghiệm của người dùng; đặc biệt, quản lý trên nền tảng sự linh hoạt và đổi mới. Kinh tế số yêu cầu sự linh hoạt và khả năng thích nghi nhanh với sự thay đổi. Doanh nghiệp cần liên tục đổi mới để duy trì và nâng cao vị thế của mình trong môi trường số.
Vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế số
Liên hợp quốc đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong nền kinh tế số và kêu gọi tăng cường đầu tư để trao quyền kinh tế cho nữ giới. Ngoài ra, Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh rằng, phụ nữ và trẻ em gái phải đóng vai trò tiên phong và trung tâm, dẫn dắt nỗ lực tiến tới tương lai bền vững mà thế giới đang cần.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số toàn cầu, phụ nữ Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế số. Sự tham gia chủ động, sáng tạo của phụ nữ không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế, mà còn khẳng định vị thế của phụ nữ trong xã hội hiện đại. Các mô hình kinh doanh do phụ nữ lãnh đạo đã tạo việc làm cho hàng triệu người, đóng góp đáng kể vào GDP và quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế bền vững; đồng thời, khẳng định vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh doanh, xây dựng thương hiệu và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh doanh toàn cầu. Chỉ số khoảng cách giới toàn cầu (Gender Gap Index - GGI) do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF 2023) được xây dựng dựa trên 4 chỉ số thành phần, bao gồm kinh tế, giáo dục, chính trị và y tế. Xét về chỉ số tổng thể, năm 2023, Việt Nam đạt 71,1%, xếp thứ 72 trên toàn cầu; tăng 0,6% và 11 bậc so với năm 2022(1). Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam xếp thứ 6. Đối với lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đạt 74,9% và xếp thứ 31 trên thế giới; giảm 0,2% về điểm và giữ nguyên bậc so với năm 2022. Có thể thấy rằng, kinh tế là lĩnh vực mà chỉ số chung của toàn cầu không cao, nhưng lại là điểm sáng của Việt Nam khi đạt được thứ hạng tốt nhất trong các chỉ số thành phần của GGI. Kinh tế số là lĩnh vực tiềm năng để phụ nữ có thể phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo và nội lực.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự và phát biểu tại lễ khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh Phụ nữ toàn cầu 2025 với chủ đề: “Phụ nữ: Khôi phục giá trị trong thời đại số” tại Thủ đô Berlin, Đức_Ảnh: TTXVN
Thách thức và cơ hội của phụ nữ Việt Nam trong kinh tế số
Thực trạng phụ nữ tham gia kinh tế số tại Việt Nam
Thực tiễn hoạt động phát triển kinh tế của phụ nữ Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy: Chuyển đổi số trong lĩnh vực kinh tế đem lại nhiều lợi ích, cơ hội cho phụ nữ phát triển kinh tế, tăng thu nhập, mở rộng khách hàng cũng như thị trường tiềm năng; gia tăng trải nghiệm của khách hàng; sáng tạo sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu; tối ưu chi phí vận hành, chi phí nhân sự; tăng hiệu suất kinh doanh và sản xuất. Đặc biệt, công cuộc chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo đã giúp phụ nữ là người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận được kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh bằng chính giá trị văn hóa dân tộc, tài nguyên của địa phương và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, lĩnh vực tiên phong của nền kinh tế số, tạo động lực phát triển kinh tế và dẫn dắt chuyển đổi số trong doanh nghiệp, phụ nữ được đánh giá là thành phần đóng góp tích cực nhất, trên cả phương diện tham gia quản lý, vận hành doanh nghiệp thương mại điện tử, là người bán hàng và người mua hàng. Việt Nam có tỷ lệ phụ nữ ở bậc quản lý doanh nghiệp thương mại điện tử chiếm cao nhất khu vực Đông Nam Á, lên đến 46%(2) (năm 2021). Theo kết quả nghiên cứu của NielsenIQ, phần lớn người tiêu dùng trực tuyến tại Việt Nam là những người đã lập gia đình (73%), phụ nữ chiếm ưu thế trong nhóm này, với tỷ lệ lên tới 58%. Ngoài ra, kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng đa số người tiêu dùng trực tuyến có mức thu nhập trên 15 triệu đồng(3). Đặc biệt, sản phẩm làm đẹp tăng trưởng mạnh trên sàn thương mại điện tử, năm 2023, ngành làm đẹp tại Việt Nam đã lọt tốp danh mục các ngành hàng bán chạy nhất từ đối tác bán hàng Việt Nam trên trang thương mại điện tử Amazon. Phụ nữ góp phần lớn tạo ra doanh thu trên mạng xã hội. Nhiều phụ nữ đã mạnh dạn tham gia sáng tạo nội dung số để quảng bá sản phẩm, văn hóa, du lịch trên mạng, thu hút cộng đồng mạng và tăng thu nhập cho bản thân. Kinh doanh trên phương tiện truyền thông xã hội, livestream bán hàng đã trở thành công việc hằng ngày của nhiều phụ nữ. Theo thống kê của Đơn vị cung cấp các giải pháp hạ tầng, truyền tải và bảo mật an ninh mạng hàng đầu tại Việt Nam và châu Á (VNETWORD), đông đảo người dùng là nữ giới tiếp cận quảng cáo trên mạng xã hội Facebook, YouTube, Instagram, TikTok, Messenger,...
Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào chuyển đổi số dịch vụ logistics và thanh toán số; do đó, trong thực tế những năm gần đây cho thấy, số người học vào ngành logistics tăng cao, trong đó tỷ lệ nữ chiếm khoảng trên 55%(4). Đến cuối năm 2023, giao dịch thanh toán thực hiện trên môi trường mạng tăng 63,3% về số lượng, 41,45% về giá trị(5), trong đó nhiều giao dịch do phụ nữ thực hiện.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, một số doanh nghiệp, hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý và một số lượng nhất định lao động nữ đã ứng dụng công nghệ số để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản, như áp dụng hệ thống tưới tự động, tưới nhỏ giọt, tự động điều chỉnh nhiệt độ trong nhà kính, nhà màng trong trồng trọt; áp dụng hệ thống cảm biến điều khiển tiểu khí hậu chuồng nuôi, cho ăn và cấp nước uống tự động trong chăn nuôi; tham gia thương mại điện tử để tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp...
Thách thức của phụ nữ Việt Nam khi tham gia kinh tế số
Tại Việt Nam, phụ nữ tham gia kinh tế số còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Cụ thể là:
Một bộ phận phụ nữ nhận thức chưa đầy đủ, thiếu kiến thức, kỹ năng về chuyển đổi số, do đó, chưa được tham gia đầy đủ, bình đẳng, có ý nghĩa vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát thực thi chiến lược, chính sách và mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Nếu không được trang bị kịp thời kiến thức, kỹ năng và thay đổi nhận thức thì phụ nữ sẽ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau; đồng thời, không phát huy được vai trò giáo dục, định hướng cho con và thành viên trong gia đình trong việc tham gia lĩnh vực số.
Chuyển đổi số có thể sẽ dẫn đến việc một lực lượng lao động nữ mất việc làm nếu không có sự tự chuyển đổi, đổi mới, nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu; trong đó, đối tượng chịu tác động nhiều nhất là ngành sử dụng lao động thủ công chủ yếu là phụ nữ, như dệt may, da giày, chế biến thủy - hải sản...
Rào cản về lối tư duy cũ, quan niệm cũ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy vai trò của phụ nữ trong tham gia chuyển đổi số. Không ít phụ nữ vẫn chịu ảnh hưởng của tư duy này khi sử dụng mạng xã hội chủ yếu để giải trí, chưa thấy hết được vai trò, trách nhiệm của mình trong thời kỳ chuyển đổi số, chưa thực sự tìm hiểu, nghiên cứu nâng cao trình độ để tham gia vào các lĩnh vực mới gắn liền với chuyển đổi số. Đặc biệt, đối với phụ nữ đã lớn tuổi thì việc sử dụng thành thạo công nghệ thông tin sẽ càng trở nên khó khăn.
Việc hỗ trợ phụ nữ ứng dụng công nghệ trong việc phát triển sản phẩm khởi nghiệp gặp không ít khó khăn, khi phụ nữ khởi nghiệp chủ yếu là hộ sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ bị hạn chế kinh phí để đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh và ảnh hưởng tới việc mở rộng quy mô doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) do phụ nữ làm chủ có nhu cầu chuyển đổi số, nhưng còn nhiều khó khăn, rào cản. Cụ thể, theo Sách Trắng về doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ ở Việt Nam, Việt Nam là một trong các thị trường có doanh nhân nữ phát triển thuận lợi, mạng lưới doanh nghiệp nữ hoạt động hiệu quả nhất ASEAN với trên 523 DNNVV do phụ nữ làm chủ, tương đương với 20% tổng số DNNVV của cả nước; phụ nữ chiếm 38% lực lượng lao động trong DNNVV. Tuy nhiên, tỷ lệ DNNVV do phụ nữ làm chủ thực hiện chuyển đổi số còn rất hạn chế, chỉ với 28%, trong khi đó chưa đến một nửa có “Kế hoạch chuyển đổi số”. Hình thức chuyển đổi số phổ biến nhất tại DNNVV do phụ nữ làm chủ liên quan đến “tài liệu quản trị doanh nghiệp” và phần mềm mới. Mới có gần 9.000 DNNVV do phụ nữ làm chủ đang phát triển mô hình thương mại điện tử hoặc kinh doanh trực tuyến.
Hiện nay vẫn còn bộ phận lao động nữ chưa được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng được yêu cầu sản xuất hiện đại, ứng dụng công nghệ cao; phụ nữ cao tuổi, ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chậm tiếp cận công nghệ thông tin, có nguy cơ tụt hậu trong nền kinh tế số. Trong thời đại chuyển đổi số, họ gặp khó khăn khi gia nhập lực lượng lao động chất lượng cao. Năm 2022, tỷ lệ lao động nữ đã qua đào tạo (23,9%) thấp hơn so với lao động nam (28,7%). Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn cũng thấp hơn nhiều so với khu vực thành thị theo tỷ lệ lần lượt là 17,5% và 41,5%(6).
Cơ hội quan trọng để phụ nữ bứt phá
Đứng trước thách thức to lớn, nhưng phụ nữ Việt Nam cũng đang có cơ hội quan trọng để bứt phá, khi vừa là lực lượng lao động sáng tạo, năng động, vừa là người kết nối, quản lý và tiêu thụ thông minh trong nền kinh tế số.
Thứ nhất, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về thúc đẩy chuyển đổi số và bình đẳng giới tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ. Đảng, Nhà nước ta xác định chuyển đổi số là phương thức quan trọng để thực hiện ý chí, khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững. Điều này được khẳng định rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ” và cụ thể hóa trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt theo Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” là văn kiện có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của đất nước trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển trong kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng và là lời hiệu triệu mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân cùng nỗ lực đưa Việt Nam thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Ngay sau đó, ngày 9-1-2025, Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã được ban hành. Đây là Chương trình hành động tổng thể, toàn diện, được thiết kế với tầm nhìn dài hạn, mục tiêu rõ ràng và giải pháp mang tính khả thi cao, nhằm cụ thể hóa định hướng, chủ trương lớn của Đảng thành hành động thiết thực, sát thực tiễn.
Với quan điểm lấy người dân là trung tâm, trong đó “sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hành động đồng bộ ở các cấp và sự tham gia của toàn dân là yếu tố bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số”; chuyển đổi số quốc gia, xét trên cả 3 trụ cột (Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số) đều hướng tới mục tiêu để người dân được phục vụ tốt hơn, giàu có hơn và hạnh phúc hơn. Bởi thế, phụ nữ vừa đóng vai trò tham gia tích cực, vừa là người hưởng lợi trực tiếp với vai trò trung tâm của kinh tế số.
Thứ hai, sự tham gia tích cực của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Nhận thức rõ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công cuộc chuyển đổi số, nền kinh tế số tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế của hội viên, phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xác định: Phát triển bền vững tổ chức hội bao hàm sự phát triển, đổi mới sáng tạo, lấy việc ứng dụng công nghệ làm cơ sở, điều kiện, tiền đề để Hội đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động; thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong kinh tế số là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong lĩnh vực kinh tế. Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2022 - 2027) xác định các nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ tham gia nền kinh tế số. Theo đó, Hội khuyến khích các tầng lớp phụ nữ chủ động học tập, nâng cao năng lực, trình độ mọi mặt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế; vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế tập thể, tiếp cận kinh tế số; hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, trong đó, tập trung ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ tham gia thương mại điện tử. Đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2023” (Đề án 01) xác định ưu tiên phát triển hợp tác xã chuyển đổi số: Ưu tiên phát triển hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, điều hành, tạo nhiều việc làm cho lao động nữ địa phương; hợp tác xã ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hợp tác xã sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm gắn với Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), với mục tiêu đào tạo ứng dụng thương mại điện tử cho trên 50% thành viên của hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, điều hành, tạo nhiều việc làm cho người lao động nữ.
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, các chương trình, đề án, nhiều hoạt động hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế số cho phụ nữ đã được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cấp hội triển khai tới cơ sở, hội viên phụ nữ. Từ năm 2021 đến nay, hàng nghìn khóa đào tạo nâng cao năng lực tham gia nền kinh tế số, ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, kinh doanh cho phụ nữ được các cấp hội tổ chức. Nhiều hoạt động tập huấn, hội thảo, sự kiện hỗ trợ phát triển kinh tế tổ chức trực tuyến qua phần mềm họp trực tuyến và phát trực tuyến trên kênh truyền thông của Hội. Tài liệu truyền thông, tập huấn chuyên đề kinh tế (hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp; tham gia tài chính toàn diện; ứng dụng khoa học - kỹ thuật trong sản xuất, thương mại điện tử...) được số hóa đa dạng dữ liệu số (bài viết, ảnh, clip, phóng sự, ấn phẩm, triển lãm...) và truyền thông sâu rộng trên kênh truyền thông của Hội, phương tiện truyền thông xã hội. Hầu hết khâu tổ chức Cuộc thi “Phụ nữ khởi nghiệp” hằng năm được thực hiện theo cách thức tận dụng tối đa tiện ích của nền tảng số: đăng ký dự thi trực tuyến; cung cấp thông tin, tài liệu cuộc thi trên cổng thông tin điện tử, fanpage; tiếp nhận hồ sơ dự thi của thí sinh; lựa chọn vòng sơ khảo, tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến, livestream sự kiện phát động, tập huấn, lễ trao giải cấp vùng, lễ trao giải toàn quốc của cuộc thi...
Cùng với đó, các cấp hội đã tổ chức nhiều hoạt động kết nối tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác do phụ nữ tham gia quản lý qua sàn thương mại điện tử, như Ocopmart, Postmart, Shopee, Lazada, Vỏ sò; quảng bá sản phẩm của phụ nữ trên Facebook, Zalo, Google; phối hợp với chuyên gia thương mại điện tử hỗ trợ kỹ thuật xây dựng thành công nhiều mô hình kinh doanh cho phụ nữ trên nền tảng số...
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tiến hành ký kết hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cũ), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã, trong đó có nội dung về tăng cường hỗ trợ kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ tham gia nền kinh tế số, đào tạo, tập huấn về thương mại điện tử, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất, tăng cường sử dụng dịch vụ tài chính toàn diện, thanh toán không dùng tiền mặt...
Hoạt động thiết thực trong chuyển đổi số của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là đòn bẩy giúp phụ nữ nắm bắt xu thế, thế mạnh của công nghệ, chủ động tham gia vào kinh tế số. Nhiều phụ nữ phát huy được năng lực sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ mới, nền tảng số để khởi nghiệp, tìm kiếm cơ hội việc làm. Trong số đó, không ít phụ nữ nông dân, phụ nữ là người dân tộc thiểu số lần đầu tiên biết đến thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt..., nhưng vẫn mạnh dạn, tự tin khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh, tham gia kinh tế số.
Thứ ba, trong nền kinh tế số, phụ nữ Việt Nam đang có cơ hội ngày càng lớn trong tiếp cận cơ hội học tập; được khuyến khích phát triển kinh tế/hội nhập, phát huy vai trò quan trọng trong quản lý và giáo dục gia đình thông minh, hiệu quả. Kinh tế số có thể mở ra cho phụ nữ thêm nhiều cơ hội được giải phóng thực chất khỏi công việc gia đình và chăm sóc con cái vốn là gánh nặng cản trở sự phát triển của phụ nữ...; đồng thời, có cơ hội tiếp cận giáo dục số, cải thiện kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao quyền năng kinh tế trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Bán hàng nông sản trực tuyến tại vườn ở tỉnh Đồng Nai_Nguồn: nld.com.vn
Một số giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ Việt Nam trong nền kinh tế số
Để phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của phụ nữ trong nền kinh tế số, ngoài nỗ lực của bản thân người phụ nữ, rất cần sự hỗ trợ tích cực từ gia đình, cộng đồng và toàn xã hội.
Một là, xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, kinh doanh của phụ nữ trong kỷ nguyên số; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định liên quan đến thúc đẩy kinh tế số; phối hợp thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao.
Hai là, đẩy mạnh tập huấn, nâng cao năng lực cho phụ nữ khởi nghiệp/ khởi sự kinh doanh, với doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh do phụ nữ tham gia quản lý về chuyển đổi số, kinh tế số; ứng dụng công nghệ số, khai thác nền tảng công nghệ, dữ liệu số vào quản lý, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; thực hiện giao dịch ngân hàng số an toàn.
Ba là, bồi dưỡng nhận thức, kiến thức, kỹ năng về kinh tế số thương mại điện tử cho phụ nữ thông qua các hoạt động, như tư vấn định hướng nghề nghiệp liên quan đến thương mại điện tử; đào tạo nhân lực thương mại điện tử; xây dựng công cụ học tập, thực hành thương mại điện tử hướng tới việc thanh toán không dùng tiền mặt...
Bốn là, tổ chức hoạt động hỗ trợ nữ doanh nhân, mô hình kinh tế khởi nghiệp, tiếp cận nền tảng số cung cấp thông tin dự báo, cảnh báo về môi trường, quy hoạch, công nghệ, đất đai, cây trồng, vật nuôi, thị trường...; kết nối phát triển nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác; ứng dụng công nghệ số để tự động hóa quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm. Hỗ trợ phụ nữ ứng dụng rộng rãi thương mại điện tử kết nối, quảng bá, tiêu thụ nông sản trên nền tảng số. Hỗ trợ chuyển đổi doanh nghiệp ngành truyền thống sang cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng số, sản xuất thông minh.
Năm là, hỗ trợ phụ nữ người dân tộc thiểu số tham gia phát triển kinh tế tại địa phương, khởi nghiệp ứng dụng chuyển đổi số, tham gia mạng lưới thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là lồng ghép bình đẳng giới trong việc tiếp cận chuyển đổi số.
Sáu là, đúc kết và tôn vinh lãnh đạo nữ trong nền kinh tế số, những mô hình doanh nghiệp thành công trong sử dụng công cụ số để phát triển kinh doanh, tiếp thị, thương mại điện tử và quản lý tài chính cũng là một hình thức lan tỏa để động viên và khích lệ phụ nữ trên hành trình tham gia chuyển đổi số.
Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy kinh tế số đối với phụ nữ. Nâng cao nhận thức và năng lực hội nhập quốc tế cho cán bộ, hội viên hội phụ nữ các cấp. Hội viên, phụ nữ cần tích cực, chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyển đổi số, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.
Phụ nữ Việt Nam đang dần thay đổi nhận thức về kinh tế số, sẵn sàng đón nhận, trải nghiệm công nghệ mới và đang bắt đầu thừa hưởng những giá trị từ nền kinh tế năng động và sáng tạo này. Từ đó, họ dần trở thành nhân tố tích cực tham gia quá trình xây dựng kinh tế số. Với tâm thế “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, từ tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và việc làm chủ công nghệ, kỹ thuật số, phụ nữ Việt Nam đang có cơ hội thuận lợi để vươn mình phát triển, tự tin phát huy năng lực, xây dựng nền tảng tri thức cho bản thân và tận dụng tính năng độc đáo của kinh tế số./.
---------------------
(1) Xem: “Sự tham gia và vị thế của phụ nữ trong nền kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo điện tử, ngày 20-1-2024, https://kinhtevadubao.vn/su-tham-gia-va-vi-the-cua-phu-nu-trong-nen-kinh-te-o-viet-nam-28079.html
(2) Viễn Thông: “Tỷ lệ sếp nữ trong ngành thương mại điện tử Việt Nam cao nhất Asean”, Báo VnExpress, ngày 7-3-2021, https://vnexpress.net/ty-le-sep-nu-trong-nganh-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-cao-nhat-asean-4244601.html
(3) Xem: “Bức tranh toàn cảnh về tiêu dùng trực tuyến Việt Nam 2024”, https://pso.edu.vn/tieu-dung-truc-tuyen-viet-nam-2024/
(4) Thanh Xuân: “Ngành logistics: Nhiều cơ hội nghề nghiệp và việc làm bền vững cho nữ giới”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 4-4-2024, https://nhandan.vn/nganh-logistics-nhieu-co-hoi-nghe-nghiep-va-viec-lam-ben-vung-cho-nu-gioi-post803095.html
(5) Anh Minh: “Ngân hàng Nhà nước thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, hoạt động ngân hàng số”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 7-3-2024, https://baochinhphu.vn/nhnn-thuc-day-hoat-dong-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-hoat-dong-ngan-hang-so-102240307164008631.htm
(6) Thùy Lâm: “Đào tạo nghề theo yêu cầu của thị trường lao động”, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 7-6-2023, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/dao-tao-nghe-theo-yeu-cau-cua-thi-truong-lao-dong-730433
Nguồn: https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1173602/phu-nu-viet-nam-trong-nen-kinh-te-so.aspx






Bình luận (0)