Một góc Thiên Phủ. Ảnh: Nguyễn Hồng Thủy.
Thiên Phủ là xã mới, được thành lập trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Thiên Phủ và Nam Động (thuộc huyện Quan Hóa cũ), tỉnh Thanh Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của Thiên Phủ là 147,48km²; gồm 13 bản, dân số 6.485 người với 1.362 hộ. Các dân tộc cùng sinh sống trên mảnh đất này là Thái (65,8%), Mường (28,6%), Kinh (5,2%) và các dân tộc khác (0,4%).
Nhưng điều gây ấn tượng đầu tiên với người lữ khách không phải những con số hành chính hay cơ cấu dân cư, mà là màu xanh ngút mắt của núi rừng. Ở Thiên Phủ, thiên nhiên không chỉ là cảnh quan mà còn là không gian sinh tồn, là nơi lưu giữ ký ức của nhiều thế hệ cư dân Thái, Mường.
Vùng đất của rừng xanh và di sản
Tương truyền, từ thế kỷ XIII, những cư dân đầu tiên đã đến với vùng đất này. Họ nương tựa vào nhau để chống thiên tai, thú dữ, gây dựng cuộc sống và lưu giữ những phong tục tập quán cho đến ngày nay.
Trong văn hóa người Thái có câu: “Tắng chặng kin pá, phứa na kín kháu”, nghĩa là “Chặn nước ăn cá, làm ruộng ăn cơm”. Câu ấy phản ánh triết lý sinh tồn của cư dân miền núi: quý nguồn nước, quý hạt giống và biết nương theo tự nhiên để sống.
Đến Thiên Phủ, tôi mới tường rằng nơi đây rất ít ruộng bậc thang. Người dân từ bao đời nay sống gắn với rừng, với chăn nuôi, với săn bắt. Không có địa phương nào ở Thanh Hóa nhiều luồng như Thiên Phủ. Những rừng luồng xanh ngắt trải dài trên các triền núi, tạo nên một màu xanh đặc trưng của vùng đất này.
Theo số liệu công bố mới nhất và đang áp dụng trong năm 2026 của UBND tỉnh Thanh Hóa, tổng diện tích rừng hiện có của tỉnh là 644.796,69ha, trong đó rừng tự nhiên 391.842,63ha, rừng trồng 252.954,06ha. Công tác bảo vệ rừng ở Thanh Hóa khá tốt, tỉnh là một trong các địa phương có tỷ lệ che phủ rừng thuộc nhóm cao nhất cả nước.
Giữa màu xanh ấy, Thiên Phủ còn sở hữu nhiều thắng cảnh tự nhiên giàu tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng. Thiên Phủ có Hang Nước với dòng suối mát trong như lời ru của núi; Hang Khô tĩnh lặng, mang vẻ đẹp cổ kính. Sâu nhất là Hang Nàng Mọn - nơi không gian mở ra như một cung điện kỳ ảo với nhũ đá lung linh và những giọt nước rơi như giọt lệ của thời gian. Tên hang gắn với một huyền sử, một câu chuyện tâm linh được người dân truyền từ đời này sang đời khác.
Giữa những cánh rừng luồng, những dòng suối và hang động mang màu sắc huyền tích ấy, người dân Thiên Phủ đã tạo dựng nên một đời sống tinh thần phong phú. Có lẽ vì thế mà khi đêm xuống, tiếng khèn, tiếng hát nơi đây vẫn ngân lên, gìn giữ văn hóa bản làng.
Những cô gái ở Thiên Phủ đẹp như bông hoa của núi. Ảnh: Ngô Đức Hành.
Tôi đã "say" trong những ngày đậm đặc bản sắc văn hóa dân tộc. Tiếng cồng, chiêng, khua luống cất lên. Các thiếu nữ dân tộc Thái trong những bộ trang phục truyền thống rộn ràng, say đắm với các bài hát “Tiếng khèn bản làng”, “Mời anh về Tây Bắc”, “Nét đẹp bản làng”.
Tôi chìm đắm trong tiếng hát, trong sắc màu, trong sức sống từ vẻ đẹp của các cô gái Thái ngay trên đất Khu tái định cư tránh lũ số 1 của bản Lở mà tưởng như đang thưởng thức một chương trình của đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.
Sau buổi văn nghệ “đãi đoàn” với phong phú các tiết mục giao lưu múa, hát, đọc thơ, tôi hỏi cô giáo Phạm Hồng Lý, giáo viên Trường Mầm non bản Lớt Dồi, thì được biết cả 13 bản đều có đội văn nghệ. Từ bản đến xã đều hết sức quan tâm đến hoạt động của các đội văn nghệ.
Người dân nói chung, cư dân người Thái, người Mường ở Thiên Phủ nói riêng luôn có ý thức gìn giữ, lưu truyền những nét đẹp văn hóa vật thể và phi vật thể. Mỗi người là một hạt nhân lan tỏa nhảy sạp, hát khặp, khua lóng, khèn bè, pí một... trong các dịp lễ, tết và trong đời sống hằng ngày.
Dân tộc Thái chiếm đa số ở đây với truyền thống lịch sử, văn hóa, chữ viết riêng. Trong đời sống cộng đồng còn lưu giữ nhiều tác phẩm truyền khẩu như “Sắng chụ sống Sáo” (Tiễn dặn người yêu), “Khún lu nang úa”, “Quân quán húa mương”...
Trong đời sống tinh thần của bà con không thể thiếu khặp. Khặp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ. Dân tộc Thái, Mường nơi đây có bộ nhạc cụ phong phú được chế tạo từ những vật liệu sẵn có trong tự nhiên như khèn bè, sáo ôi, pí một, khươ luống...
“Từ bên kia rừng núi cao cao đỏ bản anh/ Sáng sương mờ sương lạnh theo cha lên rừng đặt bẫy...”, tiếng hát của nữ sinh Hà Thị Kim Chi Na, học sinh lớp 11 bản Sài, dìu dặt vang lên giữa đêm giao lưu. Cô giáo Phạm Hồng Lý cho biết đó là lời trong bài hát “Tiếng khèn bản làng”.
Đảng ủy xã Thiên Phủ vừa ban hành Nghị quyết số 5-NQ/ĐU về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả, bền vững giai đoạn 2026-2027, định hướng đến năm 2030.
Thực tiễn cho thấy, tăng trưởng kinh tế và mở rộng cơ hội chưa đủ để bảo đảm sự phát triển bền vững nếu không đi kèm với sự phát triển tương xứng về văn hóa và chất lượng con người. Văn hóa đã và đang là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần, là hệ điều tiết của phát triển bền vững.
Từ bản sắc đến sinh kế
Giữ gìn bản sắc không chỉ để lưu giữ ký ức cộng đồng. Với Thiên Phủ hôm nay, văn hóa còn được xem là một nguồn lực phát triển. Những làn điệu dân ca, nghề dệt thổ cẩm hay không gian bản làng truyền thống đang từng bước trở thành nền tảng cho những mô hình sinh kế mới.
Sẽ không có gì ngạc nhiên khi trước Nghị quyết số 5 là Nghị quyết số 4-NQ/ĐU về nâng cao chất lượng lao động, đa dạng hóa sinh kế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân giai đoạn 2026-2030.
Chủ tịch UBND xã Phan Văn Đại cho biết địa phương đang tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển các mô hình sinh kế đặc trưng, phù hợp với điều kiện thực tế. Xã ưu tiên hỗ trợ về vốn, con giống, vật tư và chuyển giao khoa học kỹ thuật để xây dựng và duy trì hiệu quả 6 mô hình điểm gồm: vịt cổ xanh bản Sài; dệt thổ cẩm bản Lớt Dồi; nuôi lợn đen bản Bất; nuôi gà ri bản Chong; trồng quế bản Chiềng; trồng mắc ca tại Chong.
Tôi đã đến Tổ hợp tác dệt thổ cẩm ở bản Lớt Dồi. Nụ cười, ánh mắt và những lời chia sẻ của các tổ viên nơi đây như nói lên một thông điệp giản dị: giữ nghề truyền thống cũng là giữ sinh kế.
Thiên Phủ đang khuyến khích người dân tham gia liên kết sản xuất thông qua việc thành lập các tổ nhóm sản xuất theo từng lĩnh vực; từng bước củng cố, phát triển thành tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm.
Xã cũng gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, chú trọng xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa địa phương đối với các sản phẩm đặc trưng; đẩy mạnh quảng bá, kết nối thị trường, từng bước hình thành chuỗi giá trị bền vững.
Đổi thay ở nơi "trời phù hộ"
Từ những mô hình kinh tế còn khiêm tốn nhưng phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, Thiên Phủ đang từng bước tạo ra những chuyển biến rõ nét. Sự thay đổi ấy không chỉ thể hiện qua thu nhập mà còn hiện hữu trong diện mạo mỗi bản làng.
Hai ngày ở Thiên Phủ, anh em văn nghệ sĩ chúng tôi được làm nông dân bắt cá trên suối Cang, đi thực tế bản Bâu và tham gia nhiều hoạt động trải nghiệm ý nghĩa. Có cùng ăn cùng ở cùng làm mới thấy, đáng mừng, sau nhiều năm thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia, diện mạo nông thôn ở Thiên Phủ đã có nhiều đổi thay. Kết cấu hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kinh tế đã góp phần thay đổi diện mạo ở cả 13 bản.
Những con đường mới, những khu tái định cư khang trang hay hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện là những minh chứng dễ nhìn thấy nhất. Nhưng để cảm nhận rõ sự đổi thay ấy, có lẽ phải lắng nghe chính những người đã gắn bó cả đời với mảnh đất này.
Tôi nhớ mãi cuộc trò chuyện với cha con ông Lương Văn Lợi, 76 tuổi và anh Lương Văn Hoan, 42 tuổi dưới ngôi nhà sàn khang trang ở Khu tái định cư bản Lở. Ông Lợi nói: “Không có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thì bà con không có cuộc sống thế này đâu”.
Anh Hoan vừa rít một hơi thuốc lào vừa tiếp lời cha: “Phải nói là chính quyền xã rất gần dân", "Bây giờ chính quyền hai cấp, đi làm giấy tờ thủ tục, các anh trên xã nhận giấy tờ cho mình, mình chỉ chờ đến lấy kết quả thôi”.
Đằng sau những đổi thay ấy là sự đồng hành thường xuyên của đội ngũ cán bộ cơ sở. Trong câu chuyện của người dân Thiên Phủ, hình ảnh chính quyền địa phương xuất hiện khá tự nhiên, như một phần của đời sống bản làng.
Nhắc đến Chủ tịch UBND xã Phan Văn Đại, anh Hoan tỏ ra rất có cảm tình: “Ông Đại xuống bản suốt”.
Nghe Hoan nói chuyện, tôi lại nhớ tới lời của Chủ tịch Phan Văn Đại: “Muốn nắm việc thì phải gần dân, mà muốn gần dân thì không thể không xuống bản. Trước có người hỏi em lên đây công tác có buồn không, em nói thật, không có thời gian để buồn đâu”. Không riêng Chủ tịch Phan Văn Đại, các cán bộ xã Thiên Phủ đều coi việc xuống bản kiểm tra công việc, nắm tâm tư, nguyện vọng của bà con là nhiệm vụ thường xuyên.
Rời Thiên Phủ, điều đọng lại trong tôi không chỉ là màu xanh của núi rừng hay tiếng hát vang lên trong đêm giao lưu văn nghệ. Đó còn là cảm giác về một vùng đất đang tìm cách phát triển bằng chính những giá trị vốn có của mình.
Giữa màu xanh của rừng và luồng, trong tiếng khặp, tiếng khung cửi cần mẫn dệt sợi mỗi ngày, người dân nơi đây đang gửi gắm ước vọng về một cuộc sống ngày càng ấm no, bền vững. Có lẽ đó cũng là khát vọng mà cái tên Thiên Phủ đã mang theo suốt bao đời: mong ước mưa thuận gió hòa, trời đất đồng lòng cùng con người vun đắp tương lai.
Thiên Phủ, với người Mường, là vùng đất nằm trong không gian văn hóa Mường Khăng cổ xưa. Trong tiếng Mường, "Mường Khăng" là vùng đất khó khăn. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, từ "Phủ" hay "Nhà Phủ" thường dùng để chỉ trung tâm cai trị, nơi ở của các vị Lang đạo (người đứng đầu bản Mường) hoặc nơi thờ tự tín ngưỡng chung của cộng đồng. Khi kết hợp lại, "Thiên Phủ" theo cách hiểu mang tính giao thoa văn hóa vùng Mường có nghĩa là ngôi nhà phủ của trời hoặc vùng đất trung tâm trù phú được ban phước. Nó đại diện cho một thung lũng lúa nước rộng lớn, giàu có và có vị thế rất được coi trọng trong hệ thống các Mường lớn.
Còn theo ngôn ngữ và quan niệm của đồng bào người Thái, tên gọi này xuất phát từ mong muốn được "Trời phù hộ". Bởi từ xa xưa, người Thái đến khai phá vùng đất núi non hiểm trở này để lập bản làng. Họ gọi tên vùng đất là Thiên Phủ nhằm cầu mong trời đất che chở, ban cho mưa thuận gió hòa để mùa màng luôn bội thu.
Ngoài ra, trong tiếng Thái cổ, từ "Thiên" hay cõi trời thường gắn liền với khái niệm nơi giao thoa giữa đất và trời, mang ý nghĩa vô cùng thiêng liêng. Trong cuốn từ điển Thái - Việt cũng ghi nhận khái niệm tương đương cõi trời/thiên phủ là "mướng bổn".
...
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/say-trong-coi-troi-thien-phu-d816657.html








