Tết Thanh minh là tục lệ phổ biến của các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh nhưng tiêu biểu nhất là Thanh minh của người Tày, Nùng – hai dân tộc có dân số đông nhất ở Lạng Sơn. Ngày nay, Tết Thanh minh thường được tổ chức vào một ngày tháng Ba do các nhà tự chọn, phù hợp với điều kiện của mỗi gia đình, trước đây hầu hết ấn định đúng vào ngày 3 tháng Ba âm lịch hằng năm, rất ít nơi tổ chức vào ngày khác. Có nơi như xã Nhượng Bạn tổng Vân Mộng, xã Tú Mạc tổng Khuất Xá (châu Lộc Bình) tổ chức ngày 16. Qua các bản tục lệ cổ, trọng tâm của Thanh minh xưa là nghi thức tế thần ở các ngôi miếu Thổ công hoặc đình làng, cầu thời tiết thuận hoà, cầu nắng, cầu mưa đúng thời điểm để mùa màng tươi tốt, bội thu. Sau đó mới đến nghi thức tảo mộ của các gia đình.
Để chuẩn bị cho ngày lễ trọng này, từ trước đó, các vị chức sắc trong làng bản gồm Kỳ mục, Lý dịch, Tiên chỉ, Thứ chỉ đã họp bàn cách thức thu tiền hoặc vật phẩm: thóc, gạo nếp... Thường là theo hộ gia đình hoặc các xuất đinh (nam giới từ 18 tuổi trở lên). Tục lệ xã Xuân Tình, tổng Vân Mộng, châu Lộc Bình viết:“Chiểu theo lệ giao cho Phe trưởng đi thu khắp các nhà trong xã, mỗi người là: một hào hai xu bạc Đông Dương, nửa cân gạo xôi trắng...”. Một số nơi trích luôn quỹ của làng xã để chi cho nghi lễ này và thu bù vào vụ mùa. Tục lệ xã Hữu Thu, tổng Hữu Thu, châu Thoát Lãng viết:“Số lễ vật ngày ấy sắm sửa hết bao nhiêu và số lễ vật các tết Thượng nguyên, Trung nguyên đều giao cho thày Mo sắm sửa. Đến vụ thu hoạch tháng Mười thày Mo chiểu thu các gia đình trong xã 15 cân thóc để bổ sung cho số chi ấy”. Việc sắm sửa, biện lễ cúng tế có nơi giao cho thày Mo, thủ từ (người được giao trông coi đình, đền, miếu), cũng có nơi lại giao cho Lý trưởng, Lềnh phe đảm nhiệm. Đồ lễ xã nào do xã ấy quy định chủng loại và số lượng tuỳ theo điều kiện, tình hình dân cư của mỗi xã. Lễ vật phổ biến là gà (luộc hoặc nướng), lợn quay, thịt lợn, xôi và rượu trắng, bánh chay (bánh dày, bánh mật, bánh hoa...), vàng hương, trầu cau, pháo giấy…
Đúng ngày Tết Thanh minh, theo hiệu lệnh, Nhân dân và các vị chức sắc của làng xã gồm Tiên chỉ, Thứ chỉ, Kỳ mục, Lý trưởng ăn mặc chỉnh tề có mặt đông đủ để làm lễ tế thần. Sau khi biện lễ, ông Mo vào lễ bái cầu bình an, mưa thuận gió hoà, nhân khang vật thịnh... Pháo được đốt lên, trong không khí trang nghiêm, mọi người theo thứ hạng lần lượt vào lễ. Cũng như Tết Nguyên đán, ở một số nơi, các gia đình mang mâm cỗ chay hoặc xôi gà, bánh kẹo, tiền, vàng hương đến dâng cúng. Thông thường, sau khi cúng tế, lễ vật chung sẽ chia cho mọi người hoặc cùng thụ hưởng lộc thần, còn mâm cúng riêng nhà nào nhà nấy mang về. Sau đó cùng nhau đi tảo mộ.
Tục lệ đi tảo mộ ở Lạng Sơn có tính thống nhất rất cao, cơ bản các nơi đều giống nhau và được quy định khá nghiêm ngặt. Sau khi làm lễ cúng tổ tiên tại gia, mọi người mang cuốc, xẻng ra các khu mộ gia tiên vảy nước, lau chùi, dọn cỏ, vun mộ phần cho cao, gọn ghẽ và tròn đầy… Sau đó bày lễ vật (xôi, gà, hoa quả, rượu trắng, vàng hương…) đã chuẩn bị sẵn dâng cúng tại mộ. Trong suốt quá trình tảo mộ không ai được đội nón, hết nắng mới được trở về nhà. Theo nhà nghiên cứu Hoàng Giáp (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), “Ngày 3/3 là ngày cầu nắng. Ánh nắng sẽ xua đi mây mù u ám, xua đi ẩm thấp tiêu diệt sâu bọ phá hoại mùa màng”. Dân gian quan niệm rằng đội nón hoặc trở về nhà khi ánh nắng còn đang chiếu rọi là trái với ước nguyện cầu nắng của cộng đồng. Do đó, dù nắng mọi người cũng không ai được đội nón. Cúng xong, mọi người cùng nhau ăn uống, vui chơi trong rừng núi để đón nắng. Chiều tối, khi mặt trời khuất núi, tắt nắng mới cùng nhau trở về nhà. Nếu ai làm trái lệ, cho rằng việc tế lễ sẽ không còn linh nghiệm nên các làng xã đều quy ước phạt để giữ nghiêm luật tục. Tục lệ xã Chính Lũ, tổng Trinh Nữ, châu Cao Lộc (phụng kê ngày 1 tháng 7 năm Khải Định thứ 4 – 1919) viết về lệ phạt đó như sau: “Nếu ngày hôm ấy bắt được người nào đội nón, quy định phạt 3 đồng bạc Đông Dương, bắt khoán 10 cân thịt lợn, 10 bình rượu…”. Nhiều xã khác cũng đều đưa ra mức phạt khá nặng so với mức đóng góp nên ít ai dám vi phạm. Đồ phạt vạ được sung công quỹ hoặc tổ chức bữa ăn cộng đồng. Quá trình đi tảo mộ mọi người phải tuân thủ một số quy định nghiêm ngặt khác như: không được cười đùa, nói to, không đốt lửa, cắt lúa… để giữ sự tôn nghiêm của không gian thiêng, lòng thành kính với tổ tiên và sự linh thiêng của tín ngưỡng.
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều quy ước trong tục lệ Thanh minh xưa đã không còn. Ngày nay, ngay cả những người cao tuổi cũng ít biết về sự tồn tại của những tập tục đó trên quê hương mình. Lật giở những trang tục lệ cổ, chúng ta không chỉ cảm nhận sâu sắc những nét riêng, độc đáo của lệ tết Thanh minh Xứ Lạng còn lưu truyền mãi đến ngày nay, mà còn được đắm mình vào không gian văn hoá làng xã Lạng Sơn xưa. Tuy còn có những thủ tục rườm rà, đôi khi khắc kỷ nhưng ấm áp tình làng nghĩa xóm, luôn hướng về cội nguồn, đạo lý tốt đẹp của dân tộc.
Nguồn: https://baolangson.vn/tet-thanh-minh-cua-lang-son-qua-cac-tuc-le-co-5086711.html






Bình luận (0)