Việc đưa ra bàn thảo những đề xuất như bảo đảm chi tối thiểu 2% ngân sách cho văn hóa, ưu đãi thuế, thí điểm quỹ văn hóa và nghỉ hưởng lương vào Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) cho thấy một bước chuyển rất đáng chú ý: từ chỗ nói nhiều về vai trò của văn hóa sang quyết tâm tạo dựng những công cụ thể chế cụ thể để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước.
Điều đáng mừng nhất trong lần thảo luận này không chỉ nằm ở số lượng chính sách được đề xuất, mà ở tư duy phát triển đang dần thay đổi. Lâu nay, chúng ta đều khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực của phát triển.
Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong không ít giai đoạn, văn hóa vẫn thường được nói đến bằng những lời rất đẹp, còn khi đi vào phân bổ nguồn lực, thiết kế chính sách hay tổ chức thực hiện thì lại chưa được đặt ở vị trí tương xứng.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Cổng TTĐTQH
Bởi vậy, việc dự thảo nghị quyết lần này đặt ra yêu cầu bảo đảm chi tối thiểu 2% ngân sách nhà nước cho văn hóa mang ý nghĩa rất lớn. Nó không đơn thuần là một con số kỹ thuật về tài chính, mà là một tuyên ngôn chính sách: muốn văn hóa phát triển thì phải đầu tư nghiêm túc, bền bỉ và có trách nhiệm.
Trong thực tế, đầu tư cho văn hóa chưa bao giờ là khoản chi “tiêu dùng”, càng không phải là phần việc có thể làm qua loa khi ngân sách khó khăn. Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, cho bản lĩnh dân tộc, cho sức mạnh mềm quốc gia, cho khả năng phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững.
Một xã hội có thể tăng trưởng rất nhanh về kinh tế, nhưng nếu đời sống tinh thần nghèo nàn, môi trường văn hóa xuống cấp, hệ giá trị bị xói mòn, thì sự phát triển ấy khó có thể bền lâu. Ngược lại, khi văn hóa được chăm lo đúng mức, nó sẽ trở thành nền đất chắc để kinh tế cất cánh, để xã hội giữ được sự ổn định, và để con người Việt Nam có đủ nội lực bước vào kỷ nguyên mới bằng tâm thế tự tin, nhân văn và sáng tạo.
Từ góc nhìn đó, những đề xuất về ưu đãi thuế hay thí điểm quỹ văn hóa cũng rất đáng chú ý. Văn hóa không thể chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước, mà cần được mở rộng không gian huy động nguồn lực xã hội. Muốn doanh nghiệp đầu tư vào điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết chế văn hóa, công nghiệp sáng tạo hay các hoạt động bảo tồn di sản, chúng ta phải tạo ra một môi trường chính sách đủ hấp dẫn, đủ minh bạch và đủ ổn định.
Ưu đãi thuế ở đây không phải là sự “ban phát”, mà là một cách Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu để khuyến khích xã hội cùng tham gia kiến tạo những giá trị lâu dài. Quỹ văn hóa, nếu được thiết kế bài bản, công khai, có tiêu chí rõ ràng, có thể trở thành một công cụ rất hữu ích để nuôi dưỡng tài năng, hỗ trợ sáng tạo, bảo tồn di sản và đưa nhiều ý tưởng văn hóa tốt ra đời sống.
Tôi đặc biệt quan tâm đến đề xuất thể chế hóa Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) hằng năm và cho người lao động nghỉ hưởng nguyên lương trong ngày này. Có thể sẽ có những băn khoăn rất thực tế về số ngày nghỉ, về chi phí xã hội, về cách tổ chức. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đây là một gợi mở rất đáng suy nghĩ. Một quốc gia muốn đi xa không thể chỉ có những ngày để tưởng nhớ các mốc lịch sử hay tôn vinh lao động, mà cũng cần có những thời khắc để toàn xã hội cùng hướng về văn hóa, về căn cốt tinh thần của mình.
Một ngày dành cho văn hóa, nếu được tổ chức tốt, không phải để nghỉ ngơi một cách hình thức, mà để mở rộng khả năng tiếp cận và thụ hưởng văn hóa cho người dân, để khuyến khích gia đình đến bảo tàng, thư viện, nhà hát, rạp chiếu phim, không gian di sản; để cộng đồng cùng sống trong một bầu không khí văn hóa đậm đặc hơn, gần gũi hơn. Đó có thể là một biểu tượng đẹp của một đất nước coi trọng đời sống tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên, nói cho cùng, điều quan trọng nhất vẫn là cách biến nghị quyết thành đời sống. Văn hóa chỉ thực sự được “đột phá” khi các cơ chế mới đi vào thực tế bằng những chương trình hành động cụ thể, bằng hệ thống tiêu chí giám sát rõ ràng, bằng trách nhiệm giải trình của từng cơ quan và bằng kết quả mà người dân có thể cảm nhận được. Chúng ta cần tránh tình trạng nghị quyết rất hay nhưng triển khai chậm, nguồn lực có nhưng phân tán, chính sách có nhưng khó tiếp cận.
Cùng với bảo đảm chi ngân sách, tôi cho rằng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện thêm những công cụ mạnh hơn nữa, như cơ chế đặt hàng sáng tạo, chính sách thuế đủ sức khuyến khích đầu tư dài hạn, hay tư duy dành một tỷ lệ nhất định trong các dự án hạ tầng công cộng cho các không gian nghệ thuật, tác phẩm mỹ thuật, cảnh quan văn hóa. Khi đó, văn hóa sẽ không còn đứng bên lề phát triển, mà hiện diện ngay trong từng công trình, từng đô thị, từng cộng đồng và từng nhịp sống thường ngày.
Buổi thảo luận ở Tổ sáng 20/4 vì thế có thể xem là một dấu mốc đáng nhớ. Bởi nó cho thấy Quốc hội đang cùng Chính phủ tìm cách khép lại khoảng cách giữa nhận thức và hành động, giữa khẳng định vai trò của văn hóa và thiết kế thể chế để văn hóa phát triển thực chất.
Một dân tộc muốn vươn xa trong thế kỷ XXI không thể chỉ đi bằng đôi chân của kinh tế hay công nghệ. Dân tộc ấy còn phải đi bằng chiều sâu văn hóa, bằng sức mạnh của con người, bằng khả năng giữ gìn bản sắc mà vẫn sáng tạo không ngừng. Và muốn như vậy, văn hóa phải được đặt đúng vị trí của nó: không phải phần việc phụ thêm sau phát triển, mà là một trong những trụ cột làm nên chính sự phát triển ấy.
Nguồn: https://congluan.vn/the-che-hoa-khat-vong-phat-trien-van-hoa-10338804.html






Bình luận (0)