Nguy cơ từ xâm nhập mặn và ô nhiễm
Theo báo cáo mới nhất của Sở Nông nghiệp và Môi trường gửi UBND thành phố Hải Phòng, sự kết hợp giữa biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước những năm gần đây đang đe dọa trực tiếp đến nguồn cung nước thô phục vụ sinh hoạt và sản xuất của hơn 4 triệu dân.
Vào mùa khô, nhân viên thủy nông phải thường xuyên đo độ mặn tại cống Trung Trang để đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất cũng như nguồn nước thô phục vụ sinh hoạt. Ảnh: Đinh Mười.
Các nguồn nước mặt quan trọng phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất gồm các sông, kênh, hồ thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Bình, hệ thống thủy lợi Đa Độ, An Kim Hải, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và các hệ thống liên quan. Đối với khu vực phía Đông, các nguồn chính gồm sông Rế, sông Giá, sông Đa Độ, sông Hòn Ngọc, sông Chanh Dương, sông Hóa, sông Luộc, sông Thái Bình và các hồ chứa trên đảo Cát Bà và đảo Bạch Long Vĩ. Đối với khu vực phía Tây, nguồn nước có liên quan đến sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn, sông Luộc, sông Lai Vu, sông Rạng, và 68 hồ thủy lợi hiện có.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng nhận diện 6 nhóm nguồn gây ô nhiễm chính, bao gồm: nước thải sinh hoạt đô thị, nước thải công nghiệp, nước tiêu thoát nông nghiệp - chăn nuôi, rác thải ven sông, các cống tiêu xả trực tiếp và ô nhiễm liên tỉnh từ thượng nguồn.
Hiện nay, nguồn nước thô của thành phố Hải Phòng chủ yếu dựa vào các sông tự nhiên và hệ thống thủy lợi như: sông Rế, sông Giá, sông Đa Độ, sông Chanh Dương và kênh trung thủy nông Tiên Lãng. Tổng lượng nước mặt có thể khai thác ước tính khoảng 989 triệu m3/năm.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy tình trạng xâm nhập mặn đang diễn biến phức tạp. Tại sông Văn Úc, nơi nguồn cấp nước chính cho hệ thống Đa Độ thì độ mặn vùng hạ lưu thường xuyên duy trì ở mức cao, có thời điểm lên tới 26‰ trong phạm vi 20 km tính từ cửa sông vào nội địa. Các khu vực như Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Đồ Sơn đang trở thành “điểm nóng” về thiếu hụt nước ngọt trong mùa khô do dòng chảy từ thượng lưu suy giảm.
Về chất lượng, dù chỉ số chất lượng nước (WQI) tại các sông lớn như: Thái Bình, Kinh Thầy, Luộc,…. vẫn đạt mức tốt (từ 56,2 đến 92,7), nhưng tại các vị trí cuối nguồn của hệ thống thủy lợi đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm cục bộ. Điển hình như khu vực cống Cái Tắt trên sông Rế, điểm Tân Hòa trên sông Chanh Dương hay cống Rỗ tại Tiên Lãng, chỉ số WQI có thời điểm xuống mức trung bình, không còn phù hợp để sản xuất nước sạch trực tiếp nếu không qua xử lý phức tạp.
Xâm nhập mặn tại xã Nghi Dương, TP Hải Phòng tăng cao những năm gần đây ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất của người dân vùng ngoài đê. Ảnh: Đinh Mười.
Xây dựng “vùng dự trữ” từ hạ tầng hiện có
Trước nhu cầu nước cho công nghiệp và đô thị dự báo tăng mạnh khi nước công nghiệp dự kiến tăng từ 280 triệu m3 năm 2030 lên 564,6 triệu m3 vào năm 2050, thành phố Hải Phòng đang khẩn trương xác định các không gian dự trữ nước chiến lược.
Giải pháp trọng tâm được đưa ra là “tận dụng và nâng cấp”, thay vì chỉ khai thác dòng chảy tự nhiên, thành phố sẽ chuyển sang mô hình chủ động tích trữ. Các tuyến sông nội đồng có mặt cắt lớn như sông Giá, sông Rế, Đa Độ, Hòn Ngọc sẽ được nạo vét, chỉnh trang để nâng cao dung tích hữu ích, biến các hệ thống thủy lợi này thành những “túi chứa nước” khổng lồ.
Bên cạnh đó, các hồ chứa nước ngọt tại đặc khu Cát Hải và Bạch Long Vĩ sẽ tiếp tục vai trò đảm bảo an ninh nguồn nước hải đảo. Đối với khu vực phía Tây, 68 hồ thủy lợi hiện có sẽ được đánh giá lại mức độ an toàn và khả năng kết nối để bổ sung chức năng dự trữ nước thô cho sinh hoạt.
Các công trình đầu mối quan trọng như cống Trung Trang, cống Cau (hệ thống Đa Độ), cống An Sơn, Phi Liệt (hệ thống Thủy Nguyên) hay cống Chanh Chử (Vĩnh Bảo) sẽ được hiện đại hóa quy trình vận hành. Việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, đo độ mặn và giám sát xả thải tại các vị trí này được xem là nhiệm vụ cấp bách để “gác cổng” cho nguồn nước thô.
Giải pháp trọng tâm đang được để xuất là “tận dụng và nâng cấp”, thay vì chỉ khai thác dòng chảy tự nhiên, thành phố sẽ chuyển sang mô hình chủ động tích trữ. Ảnh: Đinh Mười.
Không dừng lại ở việc cải tạo hạ tầng sẵn có, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cũng mở ra hướng nghiên cứu về các công trình ngăn mặn, giữ ngọt quy mô lớn trên các trục sông chính như: sông Thái Bình, sông Hóa và sông Mới. Phương án này bao gồm việc nghiên cứu xây dựng các đập điều tiết tại cửa sông để hình thành các hồ chứa nước ngọt trên sông tự nhiên. Đây là giải pháp triệt để nhằm ứng phó với kịch bản nước biển dâng và sự thay đổi dòng chảy từ các hồ chứa lớn phía Bắc. Tuy nhiên, việc xác định vị trí và quy mô cần được nghiên cứu chuyên sâu về mô hình thủy văn, thủy lực và tác động môi trường trước khi triển khai.
Để hiện thực hóa lộ trình này, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng kiến nghị UBND Thành phố giao các sở ngành phối hợp chặt chẽ. Cụ thể, Sở Xây dựng sẽ rà soát quy hoạch cấp nước và nhu cầu kết nối liên thông giữa các nhà máy; Sở Tài chính tham mưu nguồn kinh phí cho nhiệm vụ khảo sát chuyên sâu; trong khi chính quyền các địa phương phải chịu trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ các điểm xả thải và vi phạm hành lang bảo vệ nguồn nước.
Trước mắt, Hải Phòng sẽ tập trung vào việc tách hệ thống thoát nước mưa và nước thải tại các khu đô thị, khu công nghiệp nhằm hạn chế tối đa việc xả trực tiếp vào các dòng sông đang cấp nước thô. Việc chủ động quy hoạch không gian dự trữ nước và kiểm soát ô nhiễm không chỉ là đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, mà còn là bước đi chiến lược để thành phố đảm bảo an ninh nguồn nước, yếu tố sống còn của một đô thị cảng xanh và bền vững trong những năm tới đây.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/tim-khong-gian-du-tru-nuoc-tho-ung-pho-xam-nhap-man-d817757.html








