Hát thay ca sĩ
Tham gia chuyến công tác Trường Sa (tháng 5/2019 ) trong đội hình báo chí, tôi được phân vào tổ truyền thông của Đoàn công tác số 13, gồm Lại Minh, Hưởng, Sơn, Triệu và tôi. Mỗi chiều, sau khi đoàn trở về từ các điểm đảo, chúng tôi sản xuất bản tin nội bộ, tổng hợp những hoạt động trong ngày, những câu chuyện xúc động, những hình ảnh đẹp và những tấm gương cán bộ, chiến sĩ vừa ghi nhận được trên đảo. Đúng 21 giờ, bản tin nội bộ được phát đi toàn tàu, giúp cán bộ, chiến sĩ và các thành viên trong đoàn hình dung lại một ngày công tác. Hết bản tin sẽ là chương trình văn nghệ.
Những dòng chữ yêu thương trên lá bàng vuông ở Len Đao. Ảnh: Việt Hải.
Xin nói thêm, cùng đi trong đoàn công tác ra Trường Sa bao giờ cũng có một đoàn văn công của các đơn vị Quân đội hoặc địa phương để mang tiếng hát lời ca ra phục vụ bộ đội và nhân dân trên đảo. Đi cùng chúng tôi dịp ấy là Đoàn Nghệ thuật Lào Cai, do anh Lương Công Nghệ - Trưởng đoàn Nghệ thuật phụ trách.
Quay trở lại chuyện tổ truyền thông. Đêm đầu tiên thực hiện bản tin là đúng 19 tháng Năm - sinh nhật Bác. Ban ngày, tàu vừa cập điểm đảo Đá Lớn A. Trong thiết kế chương trình, phần nội dung có phản ánh hoạt động kỷ niệm sinh nhật Bác trên đảo do các phóng viên - biên tập viên thực hiện, phần văn nghệ sẽ có các tiết mục hát về Bác do ca sĩ Đoàn nghệ thuật Lào Cai đảm nhiệm. Chiều, trước giờ cơm, Trưởng đoàn Nghệ thuật Lào Cai Lương Công Nghệ đã cử một nữ ca sĩ lên phối hợp với chúng tôi thực hiện bản tin trên tàu.
Tôi đóng dấu tôi vào Trường Sa. Ảnh: Nguyễn Hưởng.
21 giờ đêm 19 tháng Năm, dù giọng vẫn hụt hơi vì say sóng nhưng bản tin do tôi và Sơn phát thanh đã phát đi suôn sẻ. Trong khi phát bản tin, vì không thấy ca sĩ đâu nên Triệu chạy đi "lùng" rồi trở về báo tin: “Các bạn ấy say sóng, nằm lả ra, thấy thương quá nên tôi không dám gọi". Tình huống này quả là ngoài tưởng tượng và khó vô cùng, nhất nữa trong môi trường quân đội, khi bước chân lên tàu, mỗi thành viên là một quân nhân - chiến sĩ Trường Sa, không thể không hoàn thành nhiệm vụ, nếu có sự cố phải báo cáo ngay. Nhưng, trên tàu không có sóng điện thoại thông thường, chỉ có sóng vệ tinh phân bổ cho các vị trí thiết yếu. Chúng tôi không thể gọi được cho Trưởng đoàn Lương Công Nghệ, còn nếu chạy về phòng tìm được anh thì chương trình đổ bể vì "cháy" thời gian.
Không hiểu điều gì cho tôi sức mạnh và sự tự tin mà tôi đưa ra đề nghị: “Để tôi hát”. Chúng tôi hội ý rất nhanh, test giọng hát của tôi rồi Sơn giới thiệu: "Sau đây, mời Đoàn công tác thưởng thức chương trình ca nhạc. Thưa các đồng chí và các bạn, hôm nay là 19 tháng Năm, chúng ta đang thực hiện chuyến công tác Trường Sa đúng dịp sinh nhật Bác. Bài hát đầu tiên gửi tới các đồng chí là một sáng tác của nhạc sĩ Thuận Yến mang tên “Vầng trăng Ba Đình”.
Rồi tôi hát.
Trước mặt tôi là chiếc micro của máy bộ đàm gắn chặt thành khối để không xê dịch chứ không phải micro biểu diễn cầm tay. Trong khoang lái, các bạn tôi nín thở. Ngoài kia, trăng vành vạnh treo mênh mông trên biển. Đêm ấy là mười rằm. Từng ánh vàng dát lấp lánh trên sóng, duềnh lên mỗi lúc sóng to. Tôi đặt tay lên ngực, bồi hồi nhớ về vầng trăng thủy chung trên Quảng trường Ba Đình thiêng liêng, hình dung con thuyền đầy trăng ngân trên sông Đáy vằng vặc những năm kháng chiến, nhớ một đêm trăng trên Quảng trường Ba Đình, có bà má miền Nam hướng về Lăng, vừa hát bài này vừa sùi sụt khóc. Tiếng hát khiến tôi quên tôi là tôi. Bài hát hằng ngày có lúc còn quên lời mà sao đêm ấy cứ lướt đi lướt đi trong niềm xúc động. Tôi không biết trong các khoang tàu còn ai thức và những ai đã ngủ li bì sau một chặng đường vất vả, có ai hình dung tôi với chiếc micro bộ đàm của buồng lái đang hóa thân vào vai ca sĩ. Những người trong Tổ lái cũng lặng đi, bạn bè quanh tôi cũng lặng đi, đầu tiên là lo sợ rồi sau đó cuốn theo cảm xúc. Tiếc rằng hôm đó, cũng vì sống trong cảm xúc nên không ai nghĩ ra việc chụp một tấm ảnh để đời.
5 giờ sáng hôm sau, vừa lúc "Toàn tàu báo thức" cũng là lúc Lương Công Nghệ gõ cửa phòng tôi, hỏi: "Đêm qua các bạn của Đoàn Nghệ thuật Lào Cai say sóng tả tơi, vậy thì ai là người hát. Anh nghe chất giọng anh nhận ra không phải người của Đoàn mình, anh muốn biết ai là người hát đêm qua?". Không trả lời thẳng vào câu hỏi của anh, tôi nói: “Cảm ơn cơn say sóng của ca sĩ Đoàn Nghệ thuật mà em được làm một công việc vinh dự, dù quá sức tưởng tượng của em nhưng em đã làm được - em được hát về Bác Hồ giữa Trường Sa”.
Xanh để yên lòng
Những ngày tiếp theo, khi cơn say sóng nguôi ngoai và nhịp sinh hoạt đi vào quỹ đạo, cánh phụ nữ bắt đầu mon men xuống bếp phụ việc bộ phận hậu cần của tàu. Ở đó, điều đầu tiên đập vào mắt tôi là các anh nuôi trong tư thế đứng dạng hai chân, giữ thăng bằng để… làm bếp.
Anh nuôi trên tàu KN491. Ảnh: Lương Thảo.
Vạt rau "luống tuổi" ở Tiên Nữ. Ảnh: Việt Hải.
Họ dậy từ 3 giờ sáng chuẩn bị bữa sáng. Trong khi chúng tôi ăn sáng thì họ chuẩn bị bữa trưa. Trong khi chúng tôi ăn trưa thì họ chuẩn bị bữa chiều. Rồi dọn dẹp, chuẩn bị cháo hoặc suất ăn cho những người say sóng không ăn được cơm thông thường, chuẩn bị lương thực thực phẩm cho sáng mai, và ngả lưng lúc 11, 12 giờ đêm để mai lại bắt đầu một guồng quay mới.
Tôi đã bỏ ăn suốt một ngày một đêm đầu tiên (trước khi tàu vào điểm đảo đầu tiên là Đá Lớn A). Thứ đầu tiên tôi ăn trên tàu là một bát cháo anh nuôi đưa vào phòng cho tôi lúc 11 giờ đêm. Anh nói: “Ráng ăn nghe, không là không trụ nổi”. Bát cháo và tư thế đứng làm bếp của những người anh nuôi khiến tôi tự vấn bản thân, từ đó, giờ rảnh rỗi, tôi vào bếp.
Rửa bát rồi thì nhặt rau. Cái buổi ấy, buổi chiều lân la xin nhặt rau ấy “dạy” tôi làm người lớn. Người anh nuôi vừa mở cánh cửa tủ làm mát vừa nói: “Nay bắt đầu chuyển sang ăn rau cọng cứng” rồi mang đặt trước tôi một rổ rau cuộng còn nguyên màu trắng nhưng lá đã ngả vàng. Tôi và Lại Minh nhìn anh. Anh thản nhiên bảo: “Nó vàng nhưng không hỏng. Hệ thống làm mát trên tàu này ngon nên mới bảo quản được nhiều ngày thế. Bữa sau là ăn đến su su, cà rốt, bí xanh, khoai tây nghe chưa em, không có rau mà ăn đâu, xanh mí chả vàng ngon tất”.
Thời điểm chúng tôi ra đảo là mùa thuận lợi nhất trong năm, mùa này, dù đôi lúc thất thường nhưng cơ bản sóng yên biển lặng, gió hiền hòa, những cơn bão chưa cuồng phá nên các luống rau trên đảo có điều kiện để xanh và xanh bền ngày hơn. Đến các điểm đảo, đoàn cứ thế say sưa chụp ảnh, quay phim, trầm trồ mà không để ý trong số ấy có những vạt rau có độ dài luống tuổi. Khi tôi hỏi “Phải chăng mùa đất liền ra đảo, các anh muốn giữ thật nhiều các luống rau xanh cho các đoàn ở đất liền ra công tác được nhìn thấy tận mắt, sờ tận tay để đất liền được yên lòng?!” thì chỉ nhận được những nụ cười.
Ừ nhỉ. Tại sao lại bắt những người lính Trường Sa phải nói về những gian khổ, thiếu thốn khó khăn khi họ cảm thấy đó là bình thường, sẵn sàng vượt qua tất cả, kể cả hiểm nguy để Tổ quốc bình yên, đất liền yên tâm về họ. Mãi gần đây, Đại tá Phan Văn Quang cho tôi xem cách một tàu hàng bảo quản rau xanh trên hải trình ra Trường Sa công tác, nhìn những bắp cải khô lủng lẳng trên giàn treo tàu hàng, nhớ đến rổ rau vàng lá của anh nuôi, liên tưởng đến những vạt rau luống tuổi trên các đảo nổi đảo chìm, một cảm giác rất khó giải thích chạy trong tôi khiến nước mắt cứ thế rơi lã chã.
Tất nhiên không phải đến lúc này mà ngay từ khi rời tàu KN491 về đất liền, tôi đã thay đổi thói quen nhà bếp bằng việc mua rau vừa phải, không để thừa mứa. Nhỡ ra có hôm không dùng hết thì để hôm sau dùng. Rau vàng cũng có thể ăn, chỉ trừ khi hỏng, nhũn.
Giờ, biển vẫn thế, bão giông càng ngày càng tăng cấp độ và không đi theo quy luật nào cả. Chỉ trừ những con tàu có hải trình dài ngày còn ở các điểm đảo, sự hậu thuẫn của đất liền và khả năng sáng tạo, kiên cường trong mọi hoàn cảnh, năng lực làm chủ biển đảo và khí hậu thời tiết của cán bộ, chiến sĩ đã khiến màu xanh của rau trải dài cả năm, kể cả mùa biển động thì bộ đội vẫn không thiếu rau xanh. Đó là sự thực, không cần phải “làm đẹp” để động viên đất liền như trước nữa. Chỉ có một thứ không bao giờ thấy đủ, có bao nhiêu cũng như thiếu, đó là hơi ấm của đất liền.
Bắp cải treo gió trên hải trình làm nhiệm vụ tại Trường Sa. Ảnh: Phan Quang.
Mùa đi biển, Hải quân và Cảnh sát biển thường sử dụng các tàu lớn, hiện đại để đưa đón các đoàn ra thăm và làm việc trên quần đảo Trường Sa, DK1...
Các lực lượng làm nhiệm vụ trực dài ngày trên biển thường là tàu nhỏ, trang bị bảo đảm hậu cần hạn chế, để có rau xanh sử dụng dài ngày, bộ đội bảo quản bằng cách làm các giàn để bí, hành tây, khoai tây... (loại rau, củ, quả để được lâu nhất), bắp cải thì xâu dây thép, treo trên sào trong khoang tàu chỗ thoáng gió để sử dụng dần... cuối chuyến công tác, có khi bắp cải đã khô như thuốc bắc, đành hầm nhừ để sử dụng cho có chất rau...
Có thể bạn quan tâm
Tiếng quê
Cũng bởi cái “không bao giờ thấy đủ” đó nên xưa nay, trong các chuyến ra đảo, các đoàn công tác thường chủ động đi tìm bộ đội, xích lại gần nhau, lắng nghe nhau. Trong cái lắng nghe ấy, đôi khi nhận được sóng quen, tìm được đồng hương, anh em giữa bao người. Tôi đã tìm thấy Thanh như thế.
Thanh hơn tôi 2 tuổi. Anh học trường làng, đi nghĩa vụ quân sự rồi chuyển chuyên nghiệp, nhiều năm công tác tại Vùng 3 Hải quân rồi đi đảo, qua các điểm đảo và thời điểm tôi ra Trường Sa, anh đang công tác tại đảo Sơn Ca.
Đỗ Văn Thanh (giữa) - cán bộ công tác trên đảo Sơn Ca năm 2019. Ảnh: Việt Hải.
Cái tiếng Thanh Hóa quê tôi, kỳ diệu thay, giữa muôn người nhưng đã cất lên thì không lẫn vào đâu được. Sau phút định vị, tôi ào ra trước mặt anh và thật bất ngờ chúng tôi nhận ra người cùng làng. Chỉ tiếc thời gian không nhiều mà hoạt động chung của đoàn thì dày đặc, Thanh lại nằm trong đội hình tiêu binh, đón đoàn khiến chúng tôi chỉ kịp nói với nhau một số câu chuyện rồi ai vào việc đó và vội vã chia tay. Phút tàu tạm biệt đảo, người trai quê tôi cứ ngây ra đứng nhìn đứa em mà quên cả bắt tay mọi người.
Tối hôm ấy, trở về tàu, tôi mở sổ tay, viết một mạch bài thơ "Tiếng quê". Tôi không dám chắc thơ có hay hay không nhưng tôi biết chắc một điều: đó là bài thơ gan ruột của tôi, trong khoảnh khắc trái tim không còn đủ chỗ chứa đựng cảm xúc, "Tiếng quê" đã bật ra như thế.
Bài thơ đã đưa tôi đến với danh hiệu "Nàng thơ” của Đoàn công tác số 13.
Có lẽ vì “Tiếng quê”, vì bài hát, vì những đổi thay sau khi trở về từ Trường Sa mà đến tận hôm nay, tôi vẫn nghĩ mình còn nợ với Trường Sa món nợ của sự trưởng thành. Trường Sa đã cho tôi nhiều hơn những gì tôi mang theo khi bước lên con tàu năm ấy. Nơi đầu sóng đã cho tôi một lần dám hát thay ca sĩ để hiểu rằng trong mỗi con người luôn có những khả năng chỉ hoàn cảnh lớn lao mới đánh thức được. Nơi ấy dạy tôi nhìn vạt rau xanh luống tuổi biết bộ đội đang cố làm yên lòng đất liền, giúp tôi nhận chân giá trị của từng điều bình dị mà cuộc sống ban tặng. Và cũng chính nơi ấy đã khiến tôi làm thơ. Người ta thường nghĩ Trường Sa là nơi xa nhất. Nhưng với tôi, đó lại là nơi đưa con người trở về gần nhất với những giá trị cốt lõi của đời sống: lòng biết ơn, sự sẻ chia, tình yêu Tổ quốc và tình yêu con người. Mỗi khi nhớ về biển đảo, cột mốc chủ quyền, những gương mặt thân thương, những câu chuyện cuộc đời, và cả những luống rau, tiếng quê, ánh trăng đêm sinh nhật Bác thức trong tôi như chưa bao giờ ngủ. Chừng nào những ký ức ấy còn ở lại, chừng đó tôi vẫn còn nợ với Trường Sa - món nợ của một người đã được biển làm cho lớn hơn, trưởng thành hơn và sống tử tế hơn với cuộc đời.
Tác giả phút tạm biệt Nhà giàn DK1/15 Huyền Trân. Ảnh: Nguyễn Hưởng.
Tiếng quê
Ngập ngừng nghe ở Trường Sa
Gọi nhau một tiếng thật thà: “Quê ơi”
Mắt tôi chạm ánh mắt người
Tiếng quê vỡ rụng một trời ấu thơ…
“Quê này, ra đảo lâu chưa?
Từ thuyền đóng ván cũng thưa vắng về
Sao người vẫn nhận ra quê?
Bởi chưng còn giữ lời thề cỏ may”.
Bồi hồi tay nắm bàn tay
Hình như nước mắt đã đầy bờ mi
“Nín đi nào, hãy nín đi”
Tiếng quê mằn mặn thầm thì bên tôi.
Tiếng này ruộng lúa, đồng khoai
Bờ đê, mái rạ, sương mai, nắng chiều…
Chắt chiu bùn đất quê nghèo
Mẹ cha chắp một cánh diều ước mơ
Rồi đi xa bến cách bờ
Trùng khơi đỏ một sắc cờ thiêng liêng
Bão giông chân cứng đá mềm
Chắc tay súng giữ chủ quyền biển khơi
Tiếng này tiếng mẹ ta ơi
Dẫu đi cuối đất cùng trời chẳng phai!
Bóng câu thoáng vụt ngang trời
Tàu đi, rẽ sóng cho người chia xa
Nơi quê ở đảo là nhà
Mênh mang biển cả cũng là quê hương
Tiếng quê neo buộc dặm trường
Kết vành phên dậu kiên cường đảo xa./.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/toi-con-no-voi-truong-sa-d816258.html










