Khi vị Ni trưởng cao niên ấy nhận biết trong tôi còn nhiều chấp niệm chưa thể giải bỏ, bà đã lấy những minh chứng trong vạn vật, trong cuộc sống để phân giải giúp tôi. Trước đức độ, phẩm hạnh và trí tuệ của bà, tâm hồn tôi như được tiếp nhận một nguồn năng lượng tích cực và thêm phần an lạc. Nay tôi trở lại Dược Sư tự bên dòng Đa Nhim trầm tịch, Sư bà đã về miền Cực Lạc từ lâu, nhưng hình ảnh của bậc chân tu vẫn luôn sống động nơi tĩnh tự này.
Trò chuyện với các đệ tử của Sư bà trước ngày Phật Đản, tôi cảm nhận, trong lòng họ, vị Tôn Sư như chưa hề đi xa. “Với giới tu sĩ Phật giáo trong và ngoài nước, Sư bà hiện thân là một vị Tôn Sư được kính trọng bởi trí tuệ, đức độ và lòng từ bi vô bờ. Những lời dạy không bao giờ phai trong lòng hàng ngàn đệ tử và đông đảo quần chúng khi tiếp cận với hệ thống trước tác đồ sộ của vị Sư trưởng. Trong kho tàng di sản của thầy hàm chứa trí tuệ mẫn tiệp, thông đạt mà vô cùng giản dị.” Một đệ tử của Ni trưởng Hải Triều Âm đã chia sẻ với tôi như vậy…
* * *
Ni trưởng Hải Triều Âm là một vị tu hành mang hai dòng máu Việt - Pháp. Mang thế danh là Nguyễn Thị Ni, bà sinh năm 1920 tại tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc Thủ đô Hà Nội. Thân phụ của bà, ông Etienne Catallan, là một công chức dân sự người Pháp làm việc ở Đông Dương thuộc địa. Thân mẫu của bà là một y sĩ người Việt, tên là Nguyễn Thị Đắc. Vì thế, Sư bà còn có tên thế tục tiếng Pháp là Eugénie Catallan. Ngắm nhìn dung nghi của bà, thấy rõ nét đẹp xuất trần giữa hai dòng máu Đông - Tây hòa quyện, nhẹ nhàng mà thanh thoát.
Ngay từ thời niên thiếu, cô Nguyễn Thị Ni đã có lối sống khuôn phép nhưng cởi mở, lịch sự; nhân hậu nhưng vẫn giữ lề lối, cương trực. Lấy xong bằng Diplôm D’étude Primaire Suprieur (tương đương bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, một trình độ khá cao thời bấy giờ), cô đi dạy học. Ngay từ khi còn tại gia, cô đã bộc lộ rõ tấm lòng từ bi, ban rải tình thương để xoa dịu những nỗi đau nơi trần thế. Ngày ngày, ngoài thời gian dạy học, cô dành nhiều tâm sức đến các bệnh viện, trại tế bần, trại mồ côi, viện dưỡng lão để hỗ trợ, an ủi, động viên những mảnh đời bất hạnh. Thế rồi, trong một lần trên đường đi qua chùa Quán Sứ (Hà Nội), cô giáo trẻ bỗng nhiên nghe tiếng giảng pháp từ ngôi cổ tự vọng ra. Những lời giảng pháp của sư cụ Tuệ Nhuận đã thức tỉnh tâm hồn cô, làm sống dậy thiện căn tu hành từ muôn thuở. Bài pháp đầu tiên mà cô lãnh ngộ trong buổi chiều hôm đó là kinh Thủ Lăng Nghiêm, phẩm Quán Âm Quảng Trần và chương Đại Thế Chí niệm Phật. Có lẽ, đó là cơ duyên thù thắng gieo trồng từ nhiều kiếp nay đã chín muồi.
Khi bản thân đã lãnh hội được sự vi diệu an lạc của Phật pháp, cô thường xuyên đến chùa tụng kinh niệm Phật, vun bồi phước đức. Lý tưởng hướng Phật nhen nhóm dần trong lòng cô giáo trẻ; cô đã dành dụm tiền tiết kiệm riêng, tìm cách in những cuốn kinh nhỏ phát cho các Phật tử hữu duyên về chùa lễ Phật. Khi hạt giống Bồ-đề nảy mầm đơm hoa kết trái, cô quy y với Hòa thượng Pháp chủ đương thời là Ngài Thích Mật Ứng, được ngài trao pháp danh là Hải Triều Âm. Có lẽ Hòa thượng đã phần nào thấy được tương lai tiền đồ của Sư trưởng nên đã ban cho bà một pháp danh vô cùng ý nghĩa và khế hợp với công hạnh thuyết pháp độ sanh của bà.
Mang trong mình hoài bão “Bác Tế Từ Hòa”, từ những ngày đầu kết duyên với Phật pháp, bà đã sáng lập gia đình Phật tử, mở các hội trưởng lão, thanh thiếu niên, nhi đồng ở Hà Nội, Hải Phòng. Sẵn vốn kiến thức thâm sâu và niềm đam mê chữ nghĩa, ni Hải Triều Âm đã đóng góp nhiều bài viết cho tòa báo Bồ Đề của sư cụ Tuệ Nhuận với bút danh là Thích Nữ Cát Tường Lan. Bằng tài năng văn chương, với lối diễn đạt cô đọng súc tích mà thực tế dễ hiểu, bà đã đưa tư tưởng Phật pháp vào thế hệ trẻ trong thời đại giao thoa giữa Nho giáo và Tây học. Đến năm 29 tuổi, thâm ngộ lẽ vô thường, phước thiện thế gian không thể đưa đến giải thoát, Sư bà Hải Triều Âm đã chọn đường xuất gia theo Hòa thượng Thích Đức Nhuận (sau này là Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam) ở Hà Nội. Hòa thượng đã cho y chỉ và thọ giới với Hòa thượng Ni Tịnh Uyển ở chùa Thanh Xuân, làng Phùng Khoang, Hà Nội.
Năm 1952, cuộc đời tu hành của Sư bà Hải Triều Âm bước sang trang mới khi bà di cư vào Nam. Nhập chúng tại Ni trường Dược Sư (Gia Định, Sài Gòn). Vị ni trẻ vừa lo tu học, vừa nhận việc giảng dạy cho hàng Phật tử. Bà lãnh ngộ tông chỉ niệm Phật qua bộ kinh Kim Cương, vừa tu quán Tứ Niệm Xứ để khai tuệ giác tỉnh, vừa dùng sở đắc về bộ kinh Lăng Nghiêm để khai tri kiến Phật. Trí huệ, đức hạnh và những thành tựu của Sư bà ngày càng vang xa.
Bản thân Ni trưởng Hải Triều Âm, khi đã tìm được trọn vẹn lẽ đạo, cũng là lúc bà dành tâm sức mở mang hành trình độ chúng. Từ Sài Gòn đến Lâm Đồng, ban đầu chỉ vài chục người, dần dần đến hàng trăm hàng ngàn người quy hướng. Với công hạnh và chí nguyện sâu rộng, Sư bà đã sáng lập 9 ngôi chùa: Ni Liên, Linh Quang, Liên Hoa, Viên Thông, Hương Sen, Lăng Nghiêm, Bát Nhã, Dược Sư và Dược Sư 2. “Sư bà là một tấm gương tận tình học pháp, truyền bá giáo pháp. Đối với tăng ni, Người luôn khiêm cung, tôn trọng và dạy hàng đệ tử suốt đời phải thực hành nghiêm cẩn Bát Kính Pháp. Đối với đại chúng, Người luôn nghiêm khắc đưa vào nội quy, giới luật; sửa trị xấu ác nhưng cũng luôn bao dung lỗi lầm cho những ai lỡ bước…”, một sư cô xin được ẩn danh đã nói về bậc Tôn Sư tiền bối của mình như vậy.
Có một điều đặc biệt, với sự thông tuệ hiếm có, Ni trưởng Hải Triều Âm đã biên soạn, biên dịch, toát yếu hơn 100 đầu sách với số lượng in ấn rất lớn. Bậc chân tu liễu đạo thường tự ẩn danh, nên mỗi cuốn sách viết ra bà không để tên mình. Mãi nhiều năm sau, khi Sư bà viên tịch, các đệ tử mới mạo muội đưa tên tác giả là Ni trưởng Hải Triều Âm lên các đầu sách.
Công hạnh của Sư bà là chuyên tu Tịnh Độ, trực ngộ tông chỉ “Tri vọng vọng tan” của Trúc Lâm thiền phái. Tôi cảm nhận, mục đích của giải thoát có nhiều con đường nhưng Sư bà đã chọn đường lối “Bốn Mùa Hoa Giác” - một di sản tinh thần vô giá cho Phật giáo Việt Nam và toàn nhân loại. Bởi thấy được nguy hiểm của đọa lạc nên Sư bà dạy hàng đệ tử phải nghiêm trì giới luật. Dùng Tứ Niệm Xứ để thanh lọc những tham sân si ẩn sâu trong tạng thức. Học kinh Thủ Lăng Nghiêm để trở về sống với tánh Phật vô lượng quang thọ, vô biên công đức. Đồng thời, học kinh A Di Đà để củng cố niềm tin về cõi nước An Lạc. Từ đó, xứng tánh niệm danh hiệu Phật cầu vãng sanh Tây phương. “Nhân Ngày lễ Phật Đản, thỉnh quý vị suy ngẫm câu: “Thiện thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Quả thật, trên trời dưới đất chỉ có tánh linh giác thường hằng là bất di bất dịch, là thứ chân thật tôn quý bậc nhất như viên kim cương sáng rực giữa hồng trần. Và để trở về với Phật tánh cố tri thiện hữu ấy, Ni trưởng dắt chúng ta đi trên con đường “Bốn Mùa Hoa Giác”. Lấy giới luật làm cỗ xe vững chắc, Tứ Niệm Xứ làm tay dắt dẫn đường, kinh Lăng Nghiêm làm bản đồ chỉ hướng, niệm Di Đà thẳng tiến đến Tây Phương. Thật là một đường lối hy hữu thù thắng giữa nhân gian!...” Sư Bảo Giác - Phó Trụ trì chùa Dược Sư đã gửi gắm với tôi những lời như vậy trước giờ chia tay…
* * *
Hôm nay, tôi về chiêm bái Phật và ngưỡng vọng giác linh vị Ni trưởng khả kính. Tôi được chắp tay tĩnh tâm trước tòa bảo tháp uy nghiêm giữa ngôi chùa Dược Sư bên dòng Đa Nhim hiền hòa êm dịu; được cùng dùng bữa cơm chay thanh đạm; ngắm nước chảy, mây trôi, hoa thơm cỏ lạ giữa chốn tĩnh thiền. Trò chuyện với hàng đệ tử kế thừa gia tài pháp bảo của bậc Tôn Sư của họ, tôi như được tiếp nhận thêm ánh sáng hoa lượng tỏa ra từ trí huệ, đức độ và phẩm hạnh của vị danh ni xuất thế. Hình như tâm hồn tôi cũng tĩnh tại, thư thái và an nhiên hơn.
Nguồn: https://baolamdong.vn/vi-ni-truong-duc-do-mang-hai-dong-mau-viet-phap-444931.html









Bình luận (0)