Xây dựng mặt bằng giá dịch vụ rác thải thống nhất trên toàn tỉnh
Để thực hiện nhiệm vụ này, Sở Nông nghiệp và Môi trường ký hợp đồng với Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư xây dựng Thanh Khôi tiến hành điều tra, khảo sát hiện trạng, đồng thời xây dựng dự thảo quy định về hình thức và mức kinh phí mà tổ chức, cá nhân phải chi trả cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH dựa trên khối lượng hoặc thể tích chất thải đã được phân loại trên địa bàn tỉnh. Trong tháng 5 và tháng 6/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các sở, ngành, địa phương và đại diện cộng đồng dân cư tại 96 xã, phường trong tỉnh để hoàn thiện dự thảo.
Theo đơn vị tư vấn, phương án giá được xây dựng trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ theo quy định của pháp luật, đồng thời cân nhắc khả năng chi trả của người dân. Đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Luật Giá năm 2023 đã quy định rõ hơn trách nhiệm chi trả đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt. Dự thảo chia đối tượng áp dụng thành nhiều nhóm khác nhau. Trong đó, hộ gia đình, cá nhân và các chủ nguồn thải với tổng khối lượng rác dưới 300kg/ngày được trả giá dịch vụ theo nguyên tắc có sự bù đắp thông qua ngân sách địa phương (chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt). Đối với trường hợp chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn hoặc phân loại không đúng quy định, giá dịch vụ được tính theo 2 phương thức gồm tính theo khối lượng và tính theo nhân khẩu.
Mức giá dịch vụ được phân chia theo khu vực nhằm bảo đảm phản ánh đúng đặc điểm phát sinh chất thải và chi phí tổ chức thực hiện tại từng địa bàn. Tất cả các mức giá trong dự thảo hiện chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Theo phương thức tính theo khối lượng, mức giá dịch vụ tại đô thị loại II và loại III được đề xuất là 722 đồng/kg chất thải sinh hoạt; tại khu vực nông thôn 759 đồng/kg. Nếu áp dụng phương thức tính theo nhân khẩu, mức thu được quy định chi tiết theo quy mô hộ gia đình.
Tại đô thị loại II, hộ 1 người đóng 18.000 đồng/tháng; 2 người 35.000 đồng/tháng; 3 người 53.000 đồng/tháng; 4 người 71.000 đồng/tháng; 5 người 90.000 đồng/tháng. Các hộ có trên 5 nhân khẩu hoặc phát sinh trên 300kg rác mỗi tháng sẽ đóng 109.000 đồng/hộ/tháng.
Tại đô thị loại III, hộ 1 người đóng 17.000 đồng/tháng; 2 người 33.000 đồng/tháng; 3 người 50.000 đồng/tháng; 4 người 68.000 đồng/tháng; 5 người 85.000 đồng/tháng. Các hộ có trên 5 nhân khẩu hoặc phát sinh trên 300kg rác mỗi tháng sẽ đóng 102.000 đồng/hộ/tháng. Trong khi đó, khu vực nông thôn hộ 1 người đóng 11.000 đồng/tháng; 2 người 21.000 đồng/tháng; 3 người 33.000 đồng/tháng; 4 người 44.000 đồng/tháng; 5 người 55.000 đồng/tháng. Các hộ có trên 5 nhân khẩu hoặc phát sinh trên 300kg rác mỗi tháng sẽ đóng 67.000 đồng/hộ/tháng.
Theo đơn vị tư vấn, các mức giá này được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát thực tế về lượng chất thải phát sinh trung bình của từng quy mô hộ gia đình trên địa bàn tỉnh.
Khuyến khích phân loại rác tại nguồn bằng cơ chế giá mới
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo mà đơn vị tư vấn xây dựng là cơ chế giá được thiết kế theo hướng tạo động lực để người dân thực hiện phân loại rác tại nguồn. Khi chương trình phân loại chất thải được triển khai đồng bộ và người dân thực hiện đúng quy định thì chi phí thu gom sẽ được tách riêng theo từng loại chất thải. Với phương thức thu theo khối lượng thì với chất thải thực phẩm và chất thải hữu cơ, mức giá thu gom được đề xuất là 526 đồng/kg tại đô thị loại II, 523 đồng/kg tại đô thị loại III và 489 đồng/kg tại khu vực nông thôn. Đối với phần chất thải còn lại sau phân loại, mức giá thấp hơn đáng kể, lần lượt là 188 đồng/kg tại đô thị loại II, 187 đồng/kg tại đô thị loại III và 174 đồng/kg tại khu vực nông thôn.
Nếu áp dụng phương thức thu theo nhân khẩu, tổng mức phí thu gom đồng thời chất thải thực phẩm, hữu cơ và chất thải khác được đề xuất là 19.500 đồng/người/tháng tại đô thị loại II; 17.400 đồng/người/tháng tại đô thị loại III và 14.700 đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn. Trong khi đó, thu gom chất thải thực phẩm, hữu cơ là 14.300 đồng/người/tháng tại đô thị loại II; 12.800 đồng/người/tháng tại đô thị loại III; 11.100/người/tháng tại khu vực nông thôn. Còn thu gom chất thải khác thì 5.200 đồng/người/tháng tại đô thị loại II; 4.600 đồng/người/tháng và 3.600 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn. Theo đánh giá của cơ quan chức năng, việc tách riêng chi phí giữa các loại chất thải sẽ giúp người dân nhận thấy lợi ích kinh tế của việc phân loại rác, từ đó giảm lượng rác phải xử lý, tăng khả năng tái chế và tiết kiệm tài nguyên.
Một điểm mới khác trong dự thảo là việc xác định chi phí vận chuyển dựa trên cự ly từ điểm tập kết đến cơ sở xử lý. Đối với chất thải hữu cơ, giá vận chuyển tại đô thị loại II và loại III dao động từ 244 đồng/kg đối với cự ly dưới 15km đến 427 đồng/kg đối với quãng đường từ 60-65km. Và cùng quãng đường trên thì tại khu vực nông thôn, mức giá tương ứng từ 293 đồng/kg đến 513 đồng/kg. Nếu tính theo nhân khẩu, chi phí vận chuyển chất thải hữu cơ dao động từ 4.700 đồng đến 9.400 đồng/người/tháng tùy khu vực và khoảng cách vận chuyển. Đối với chất thải còn lại sau phân loại, giá vận chuyển cũng được xác định theo cự ly. Tại đô thị loại II và III, mức giá từ 245 đồng/kg đến 428 đồng/kg; trong khi tại khu vực nông thôn dao động từ 294 đồng/kg đến 514 đồng/kg.
Nhiều ý kiến góp ý để bảo đảm tính khả thi khi triển khai
Nhìn chung, tại các hội nghị tham vấn, đa số các ý kiến đồng tình và đánh giá cao với chủ trương xây dựng cơ chế giá minh bạch và phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, cũng có những đại biểu tham dự nêu ý kiến bày tỏ những băn khoăn đối với dự thảo. Một số ý kiến cho rằng việc áp dụng hình thức thu phí theo nhân khẩu tại khu vực nông thôn sẽ gặp khó khăn do số nhân khẩu trong hộ thường xuyên biến động, trong khi lượng rác phát sinh thực tế không tương ứng. Nhiều hộ có từ 8-10 nhân khẩu nhưng phần lớn thành viên đi học, đi làm xa nên lượng rác phát sinh tại gia đình không lớn.
Đối với phương án tính phí theo khối lượng rác thải, nhiều đại biểu đánh giá đây là giải pháp có khả năng thúc đẩy phân loại rác tại nguồn và giảm lượng chất thải phải xử lý. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế có thể phát sinh nhiều vướng mắc như khó xác định thời điểm cân rác khi người dân vắng nhà, nguy cơ đổ trộm rác hoặc chuyển rác sang hộ khác nhằm giảm chi phí phải chi trả.
Bên cạnh đó, có những ý kiến cũng cho rằng chi phí vận chuyển rác tại khu vực nông thôn hiện được tính ở mức khá cao do khoảng cách vận chuyển xa. Trong khi thu nhập của người dân nông thôn còn hạn chế, việc cộng thêm chi phí vận chuyển có thể khiến tổng số tiền phải đóng tăng đáng kể so với hiện nay. Cũng có những ý kiến đề nghị nghiên cứu kỹ phương án tính phí theo nhân khẩu, đặc biệt tại các khu vực nông thôn, vùng xa trung tâm; đồng thời xây dựng cơ chế phù hợp đối với hộ kinh doanh, trường học, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp./.
| Theo Chi cục trưởng Chi cục Môi trường và Biến đổi khí hậu Phan Công Hợi, cơ quan chuyên môn sẽ tiếp tục tổng hợp các ý kiến đóng góp từ cơ sở để hoàn thiện dự thảo trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét ban hành. Khi chính sách chính thức được thông qua, tỉnh sẽ có một cơ chế giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH thống nhất trên toàn tỉnh. Không chỉ tạo nguồn lực ổn định cho hoạt động bảo vệ môi trường, chính sách mới còn được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc phân loại rác tại nguồn, nâng cao ý thức cộng đồng và từng bước hình thành nền quản lý chất thải hiện đại, hiệu quả, bền vững trong giai đoạn phát triển mới của địa phương. |
Nguồn: https://baotayninh.vn/xay-dung-co-che-gia-dich-vu-rac-thai-thong-nhat-cong-bang-149653.html










