Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Xu hướng Công nghiệp văn hóa

Công nghiệp văn hóa (CNVH) là các ngành sản xuất, sáng tạo, truyền bá các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nghệ thuật bằng phương thức công nghiệp và thương mại hóa, thường được bảo vệ bản quyền.

Việt NamViệt Nam05/05/2026


Nhóm ngành này kết hợp giữa sáng tạo, công nghệ và kinh doanh, vừa bảo tồn, vừa khai thác giá trị thương mại, vừa đóng góp giá trị kinh tế, vừa bồi đắp nâng cao đời sống tinh thần cho công chúng, vừa tăng cường sức mạnh mềm của quốc gia.

Nhìn chung CNVH thường bao gồm các ngành cốt lõi là điện ảnhâm nhạc, truyền hìnhxuất bảntrò chơi điện tử (game), thiết kế thời trang, nghệ thuật biểu diễn du lịch văn hóa. Một số số nước còn bao gồm thủ công mỹ nghệ, thể thao, quảng cáo. Có nước còn bao gồm ẩm thực dân tộc và y học cổ truyền. Nhiều hay ít ngành còn do các ngành CNVH được nhóm vào và hay tách ra.

Năm 2014, nước ta mới chính thức xác định nhiệm vụ phát triển CNVH đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Nghị quyết 33-NQ/TW, Chiến lược phát triển các ngành CNVH (2016) lần đầu tiên định hướng chiến lược cụ thể, quy định rõ mục tiêu, lĩnh vực và giải pháp phát triển (đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh việc đẩy mạnh phát triển các ngành CNVH, coi đây là một trong những đột phá chiến lược để phát triển đất nước bền vững. Đặc biệt là các văn kiện gần đây (Chiến lược lần thứ 2 (2025) về phát triển các ngành CNVH đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW (2026)) về phát triển văn hóa Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (2026). Đảng và Nhà nước định vị chiến lược phát triển CNVH ở tầm cao hơn. CNVH được xác định là tinh hoa của sự kết hợp giữa sáng tạo nội dung với công nghệ và chuyển đổi số với thị trường xuyên biên giới, là động lực nội sinh, năng động, hệ điều tiết để phát triển bền vững, có tiềm năng đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP và xuất khẩu, cạnh tranh quốc tế, vừa bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa mở rộng hội nhập, tăng cường sức mạnh mềm của quốc gia. Nhà nước cam kết đầu tư tối thiểu 2% ngân sách cho các ngành CNVH, đồng thời tiếp tục hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách cởi mở, thông thoáng để khuyến khích, thúc đẩy CNVH phát triển lên một tầm cao mới. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta tuy bắt đầu có muộn hơn các nước phát triển, nhưng hiện nay đã cập nhật và vận hành theo xu hướng chung của thế giới.

Trên thế giới, tỷ lệ đóng góp của CNVH vào GDP khoảng 4%, các nước phát triển thường từ 4%-7% tùy thuộc vào phạm vi thống kê và quy mô của nền kinh tế của từng quốc gia. Anh và Hàn Quốc đã đạt tới 9%. Quy mô giá trị gia tăng của CNVH thì nước Mỹ dẫn đầu, năm 2024 đã đạt trên 1.200 tỷ USD, Trung Quốc gần 1.000 tỷ, Nhật Bản 280 tỷ, Anh 180 tỷ, Đức 160 tỷ, Ý 150 tỷ, Pháp 125 tỷ, Hàn Quốc 120 tỷ. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm CNVH gần 2.000 tỷ USD, 70% là thuộc khoảng 10 nước hàng đầu. Hàng năm, Trung quốc và Mỹ xuất khẩu hàng trăm tỷ USD, các nước khác xuất khẩu hàng chục tỷ USD. Các ngành văn hóa chủ lực, có thương hiệu nổi tiếng của Mỹ là Điện ảnh, Âm nhạc, Truyền hình, Phần mềm giải trí, Truyền thông đa phương tiện. Trung Quốc là Điện ảnh (nhất là điện ảnh cổ trang, võ hiệp), Thủ công mỹ nghệ, đồ chơi, Du lịch văn hóa, Trò chơi điện tử; Nhật Bản là Truyện tranh, Hoạt hình, Trò chơi điện tử; Hàn Quốc là Âm nhạc (K-Pop), Phim truyền hình; các nước phát triển ở Châu Âu là Thời trang, Mỹ phẩm, Thể thao... 

Trong khối  Asean, Singapore và Thái Lan được đánh giá có CNVH phát triển nhất. Singapore có thế mạnh là trung tâm sáng tạo quốc tế, nghệ thuật biểu diễn, tổ chức sự kiện, triển lãm quy mô toàn cầu; Thái Lan mạnh về điện ảnh, âm nhạc, thời trang du lịch văn hóa (phát huy bản sắc ẩm thực dân tộc và y học cổ truyền); Indonesia về thủ công mỹ nghệ, âm nhạc, trò chơi điện tử; Philippines về hoạt hình, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn; Malaysia về hoạt hình, trò chơi điện tử, ẩm thực bản địa, du lịch văn hóa... Tỷ trọng CNVH của các nước từ 5-7%. Xu hướng chung của thế giới là phát triển CNVH trở thành ngành mũi nhọn “không khói”, đóng góp lớn vào GDP và xuất khẩu, chuyển đổi số, mở rộng thị trường không biên giới trên không gian mạng, tạo dựng thương hiệu quốc gia, quốc tế, phát huy bản sắc bản địa, cạnh tranh sức mạnh mềm.

CNVH ở Việt Nam được xác định 10 ngành là Điện ảnh; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản. Trong giai đoạn 2025-2030, nước ta tập trung phát triển 6 ngành trọng tâm: Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và các trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa.

Năm 2025, CNVH của Việt Nam đạt gần 20 tỷ USD, chiếm 4,2% GDP (với quy mô GDP 476 tỷ USD), thuộc nhóm nước trung bình trên thế giới và nước khá của khu vực Asean. Mục tiêu phấn đấu đạt 7% (2030, tương ứng 56 tỷ USD) và 9% (2045, tương ứng 135 tỷ USD). Xuất khẩu các sản phẩm CNVH tăng trưởng bình quân 7% (đến 2030) và 9% (đến 2045). Có từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia về CNVH (2030). Trở thành quốc gia phát triển về CNVH trong khu vực Châu Á, Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm và giá trị xuất khẩu sản phẩm CNVH.

Chỉ tiêu từng ngành về Doanh thu (tương đương USD) đến năm 2030 được xác định (từ cao xuống thấp): (1) Phần mềm và các trò chơi giải trí 50 tỷ;(2) Du lịch văn hóa 31 tỷ; (3) Thủ công mỹ nghệ 6 tỷ; (4) Quảng cáo 3,2 tỷ; (5) Thiết kế sáng tạo 2 tỷ; (6) Truyền hình và phát thanh 1,3 tỷ. (7) Điện ảnh 500 triệu; (8) Nghệ thuật biểu diễn 430 triệu; (9) Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm 124 triệu; (Xuất bản không có chỉ tiêu cụ thể về doanh thu). Cơ cấu: Phần mềm và các trò chơi giải trí chiếm 53%, Du lịch văn hóa chiếm 33%, các ngành khác chiếm 14%. Hướng phát triển chủ đạo là kết hợp sáng tạo nội dung với công nghệ và thị trường, công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng vượt trội trên 80%.

Các thành phố lớn cơ bản có đầy đủ các ngành CNVH như chiến lược quốc gia, có cơ sở hạ tầng, có thị trướng, dẫn đầu về giá trị gia tăng và xuất khẩu sản phẩm văn hóa, có tỷ trọng đóng góp vượt trội  vào GRDP so với bình quân cả nước. Hà Nội (Thành phố Sáng tạo UNESCO) tập trung vào thiết kế sáng tạo, di sản và nghệ thuật, CNVH đóng góp khoảng 5,3% GRDP năm 2025, mục tiêu  9%( 2030), 12% (2045). TP.HCM (Trung tâm CNVH hàng đầu), đóng góp 5,7% GRDP (2025), mục tiêu 7,2%( 2030), 9%(2045). Đóng góp cao nhất là các ngành mũi nhọn như điện ảnh, game, biểu diễn nghệ thuật, du lịch văn hóa. Đà Nẵng (Trung tâm di sản & sáng tạo miền Trung). Trọng tâm là du lịch văn hóa, công nghiệp số, game. Đạt 5,8% GRDP (2025). Mục tiêu  trên 10% (2030), 13%(2045). Huế (Thành phố di sản & lễ hội): Tập trung phát triển kinh tế đêm, nghệ thuật thực cảnh, ẩm thực và kinh đô áo dài, gắn với di sản cố đô. Đã đạt 4,5% GRDP, mục tiêu 7% (2030) 12% (2045). Nói chung, ở các thành phố các ngành vui chơi giải trí, du lịch văn hóa và quản cáo chiếm trên 85% đòng góp vào GRDP thành phố, các ngành khác 15%. 

Các địa phương khác thì cơ sở hạ tầng, nhất là thị trường hạn chế hơn, chủ yếu là phát triển văn hóa du lịch, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ... Rất ít ngành CNVH trực tiếp kinh doanh, chủ yếu là một số hoạt động như phim ảnh, tham quan di tích, bảo tàng, vui chơi, giải trí tại các khu, các điểm du lịch, mặt hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm. Du lịch văn hóa là chủ lực, nhưng cũng ít trực tiếp tạo ra doanh thu, chủ yếu là góp phần thu hút khách du lịch, kéo dài thời gian lưu trú, thông qua đó để tăng doanh thu từ lưu trú, ăn uống, mua sắm. Các lễ hội, kể cả lễ hội lớn, có nơi bán vé (Lễ hội đền Hùng), có Lễ hội thì không, như Lễ hội văn hóa các dân tộc Mộc Châu Sơn La, nhưng gián tiếp vẫn đóng góp tạo ra doanh thu từ các  dịch vụ khác. Còn lại các hoạt động văn hóa khác, kể cả thể thao chủ yếu là phục vụ, không bán vé, cũng ít phát sinh các dịch vụ thu tiền (ăn uống, lưu trú, mua sắm). Các tỉnh miền núi, chỉ có rạp chiếu phim chuyên nghiệp là kinh doanh, còn các đội chiếu phim lưu động là phục vụ. Các hoạt động nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp cũng chủ yếu là phục vụ. Một số đội văn nghệ cộng đồng biểu diễn phục vụ các đoàn khách thì được thù lao, nhưng không lớn. Những hoạt động văn hóa không kinh doanh, mà mang tính chất dịch vụ công ích thì thường không tính doanh thu, nhưng vẫn tính phần chi phí đóng góp vào GRDP các tỉnh. Phổ biến ở các tỉnh, du lịch văn hóa đang chiếm  tỷ trọng áp đảo (khoảng trên 80%) CNVH đóng góp vào GRDP, các ngành khác chỉ 20%.

Tương lai, chuyển đổi số giúp mở rộng thị trường trên không gian mạng, không bị giới hạn bởi ranh giới địa lý, mà là thị trường toàn quốc và thị trường toàn cầu, đặc biệt thông qua các nền tảng trực tuyến, như YouTube, Spotify, Netflix, Amazon Kindle, TikTok... Bản sắc văn hóa bản địa có xu hướng được đề cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Như vậy, các địa phương, nhất là các tỉnh miền núi, vùng dân tộc lại trở thành lợi thế. Không riêng ở các thành phố, các tỉnh phát triển, mà ngay cả các tỉnh miền núi như tỉnh Sơn La càng ngày càng có nhiều kênh cá nhân sản xuất và phát sóng giới thiệu văn hóa các dân tộc (Lễ hội, đám cưới, ma chay, thi người đẹp, múa hát dân tộc, phong cảnh, làng bản, múa, hát dân tộc, ẩm thực dân tộc, ngành nghề truyền thống, hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm OCOP, các địa điểm du lịch, các Homestay, các hoạt động trải nghiệm .. Có cả những kênh hướng dẫn tập thể dục dưỡng sinh và múa hát tại nhà... Xuất bản và phát sóng trên không gian mạng vừa trực tiếp thu nhập quảng quảng, vừa góp phần thúc đẩy mua bán sản phẩm địa phương và khách du lịch đến địa phương. Giá trị quảng cáo toàn cầu năm 2025 tới 1.200 tỷ USD, trong đó quảng cáo kỹ thuật số và mạng xã hội chiếm 80%, báo chí chỉ 20%. Ngoài ra, các kênh phát sóng cá nhân cũng thu hút không ít tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ, giúp đỡ cá nhân và cộng đồng tại địa phương. Đài truyền hình tỉnh Vĩnh Long (cũ), không dùng ngân sách  nhà nước, ngược lại còn đóng thuế cho nhà nước thuộc tốp 1.000 doanh nghiệp hàng dầu (gần 1.000 tỷ đồng/năm), cũng là do phát triển tốt thị trường trên không gian mạng để thu nhập từ bản quyền và quảng cao (riêng kênh YouTobe mỗi năm thu 4 triệu USD, tương đương trên 105 tỷ đồng). Vấn đề cần quan tâm là, phát triển thị trường sản phẩm CNVH trên không gian mạng phải đi đôi với nâng cao năng lực quản lý, thống kê, bảo vệ bản quyền, bảo vệ trẻ em.

Xây dựng bộ tiêu chí thống kê, đánh giá các ngành CNVH cũng là vấn đề được đạt ra. Từ năm 2016, Chiến lược phát triển CNVH đã đặt vấn đề nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí thống kê, đánh giá doanh thu và giá trị gia tăng của các ngành CNVH. Nhưng cho đến nay thống kê thường niên ở cấp quốc gia và cấp tỉnh về CNVH vẫn theo chỉ tiêu truyền thống chỉ giới hạn các ngành nghệ thuật, vui chơi giải trí, chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu GDP/GRDP, còn phần lớn đang nằm lẫn vào các ngành khác (sản phẩm thủ công mỹ nghệ nằm trong Ngành Công nghiệp, Vui chơi giải trí phục vụ du lịch nằm trong Ngành Du lịch, Phát thanh truyền hình nằm trong ngành Thông tin, Truyền thông...). Năm 2024 tỷ lệ trong cơ cấu GDP/GRDP của ngành nghệ thuật, vui chơi giải trí/các ngành CNVH chênh lệch rất lớn, với tỷ lệ 1/3-7 (Cả nước 0,63/4,2; Hà Nội 0,75/5,3; TP HCM 0,93/5,7; Đà Nẵng 1,75/5,8...). Các địa phương khác mới thống kê Ngành nghệ thuật vui chơi giải trí, chưa tính toán được các ngành CNVH, nhưng khả năng cũng có sự chênh lệch rất lớn. Đa số các địa phương căn cứ vào chỉ tiêu quốc gia về phát triển CNVH để định ra mục tiêu phấn đấu theo hướng: Các thành phố và các tỉnh phát triển thì cao hơn bình quân cả nước; Tỉnh trung bình thì bằng mức trung bình cả nước; Tỉnh kém phát triển hơn thì thấp hơn cả nước. Những tỉnh giới hạn ở các ngành Nghệ thuật, vui chơi giải trí theo chỉ tiêu thống kê hiện tại thì mục tiêu lại rất thấp. Ví dụ, ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, chỉ tiêu phấn đấu các ngành CNVH của tỉnh Điện Biên chiếm 5% GRDP (2030), 7%GRDP (2045). Trong khi đó, Sơn La chỉ là 0,7% và 0,9%, mặc dù hiện tại tỷ lệ đóng góp của Ngành nghệ thuật vui chơi giải trí của Sơn La cao hơn Điện Biên (0,49 so với 0,36). Trước tình hình này, có địa phương (TP Hà Nội, TP Huế) chủ động nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu thống kê, đánh giá các ngành CNVH. Khi tính toán đầy đủ 10 ngành CNVH thì phải trừ đi những phần lâu nay nằm lẫn vào các ngành khác. Vì vậy, chuẩn tắc nhất là có bộ chỉ tiêu áp dụng ở cấp quốc gia và cấp tỉnh trong cả nước, thống nhất với bộ chỉ tiêu thống kê các ngành khác./.

                                                                                                          Phan Đức Ngữ

Nguồn: https://sonla.dcs.vn/tin-tuc-su-kien/noi-dung/xu-huong-cong-nghiep-van-hoa-7923.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Trẻ em đá bóng trên bãi cát

Trẻ em đá bóng trên bãi cát

Khi kiến trúc hiện đại hòa cùng thiên nhiên hùng vĩ

Khi kiến trúc hiện đại hòa cùng thiên nhiên hùng vĩ

tự hào Việt Nam

tự hào Việt Nam