
Bên kia sông tiếng chuông chùa Hạ vọng qua. Anh đứng lên nhấc gọng rớ. Đêm nay cá nhiều không kể xiết. Anh chợt nhớ bé Bi hồi mới lên bốn tuổi, anh đi đâu con cũng đi theo. Có lần con thấy đàn cá đông đặc quẫy trong mành rớ anh vừa nhấc lên, Bi thò tay vớt một con cá lên ngắm nghía hồi lâu, mắt mũi rơm rớm ngước lên nhìn ba thỏ thẻ: “Ba thả cá về lại sông đi! Con thương nó quá!”. “Rồi ba con mình lấy gì ăn?” anh hỏi. “Con ăn cơm không cũng được!” con nài nỉ. Anh chiều con, lẳng lặng gỡ một góc mành đổ xòa đàn cá xuống sông trước vẻ mặt hớn hở của con.
Anh đứng lên treo cây đèn măng sông lên cao. Trong màn sương dày đặc, chỉ còn thấy thấp thoáng chóp mái chùa Hạ uốn cong cong hình bán nguyệt. Mặt nước loang loáng ánh phản chiếu từng cụm mây bảng lảng trôi vào lòng sông. Gió xuân mơn man thổi, mang theo mùi phù sa ngai ngái, thoảng trong đó mùi gừng sôi, mùi nếp dẻo ngọt nhà ai vừa giã.
Dòng sông đứng yên như quên chảy. Lẫn trong tiếng lóc bóc vỗ bờ, có tiếng con gà nước cồng cốc. Mái dầm trong tay anh chém vào nước gọn gàng, đều đặn. Bến Chồ vắng tanh, giờ này chắc chẳng còn ai qua sông. Anh Thà day mũi ghe về bờ, đẩy lên bãi cát. Bên mé nước tiếng một con cá quẫy mạnh chuồi mình vào lòng sông, một con khác còn mắc cạn giữa đám cỏ khô lùng nhùng, đúng lúc anh đẩy ghe lên bờ, dòng nước xô dạt giúp nó thoát thân.
Đêm tối trời. Dọc theo con sông Mòi, anh đi trong ánh lân tinh của bầy đom đóm rải dọc các bờ tre. Từ đây ngó lên đã thấy căn nhà nhỏ giữa doi đất thênh thang. Hồi vợ chồng mới cưới nhau, anh dắt chị ra doi đất ngắm nghía coi ngày để đào cái móng, bà con trong làng biết chuyện ai cũng can, biểu vô xóm trong mà ở, hết chỗ sao mà dắt nhau ra cái doi này, đêm ngày gì cũng gió không là gió. Chị chỉ cong mắt cười, cùng anh đẩy xe bò chở gạch về xây “ngôi nhà uyên ương”, nói như cách bà con trong làng.
Trong căn nhà nhỏ, ngọn đèn soi bóng chị Thà đang ngồi rim mứt, tay cầm đôi đũa đều đặn đảo trong cái thau nhôm, gương mặt cúi xuống vẻ dịu dàng quen thuộc. Nghe tiếng chân nằng nặng vô tới hiên, chị dừng tay cười đón anh.
“Bi nay ngủ sớm hay sao mà không rim mứt cho má?” cởi cái áo vắt lên dây, anh Thà ngó vô mùng. “Trưa ham đào hang dế không ngủ, cầm đôi đũa đảo cho má được vài vòng đã là đà”, chị Thà vừa đáp lời anh vừa xuống bếp bưng mâm lên đặt xuống chiếu, xới cơm ra chén cho chồng, rồi quay qua thau mứt vừa cạn đường. Ngoài sông vọng vào tiếng con gà nước cồng cốc cồng cốc. Anh Thà nhìn ánh lửa bên bếp bập bùng hắt lên gương mặt vợ nhìn nghiêng. Anh chợt thấy thương chị vô cùng. Tết nhứt tới nơi rồi, làng trên xóm dưới rần rần sắm sanh đủ thứ. Nhà anh cũng có dưa kiệu, thau mứt gừng, bé Bi thêm mấy bộ đồ mới. Còn chị Thà mấy năm nay vẫn chẳng sắm sanh gì. Từ khi có con, mọi chắt chịu của chị đều dành cho bé Bi. Bé Bi chợt giật mình ú ớ nói mê. Chị Thà chui vào giường nằm ôm con, nghe hơi thở má nóng ấm, bé Bi yên tâm ngủ tiếp.
“Đò ơi!” ngoài bến vọng vào tiếng gọi đò khắc khoải lẫn vào tiếng nước vỗ bãi bờ. Anh đứng lên vội vàng cầm mái dầm ra ngõ.
Trăng hạ tuần rót xuống lòng sông một gam màu huyền hoặc, kỳ ảo, có thể nhìn thấy cả những cọng cỏ đọng sương sáng nhấp nháy giữa triền sông. Bóng một người khách qua đò đang đứng đợi, túi xách lỉnh kỉnh trên vai, trong bóng đêm chập choạng, cành đào trong tay ông rực lên, mơn mởn. Anh Thà vừa gỡ dây neo bên cây sào, người khách đã vội vàng bước xuống. Mùi hoa đào thanh khiết, dịu nhẹ thoảng vào mùi gió sông. Anh kín đáo hít hà mùi hương hoa thanh tân ấy. Cành đào này, giống hoa từ ngoài Bắc đem vô. Anh chợt nghĩ, nếu nhà có cành đào như thế này ngày Tết, chắc chị và bé Bi vui lắm.
Người đàn ông ngồi cuối mũi ghe, lơ đãng nhìn khúc sông lững lờ trôi qua trong tiếng ràn rạt của mái dầm. “Chú ở xa về quê ăn Tết à?” anh Thà gợi chuyện. “Ờ… cũng mười mấy năm rồi mới về thăm quê”. “Chú người làng nào?”. “Tôi người Trà Lý”. Người đàn ông trầm ngâm nhìn làng mạc dần lui về phía sau, lẩm bẩm như độc thoại “Nhớ quê thì về thăm thôi chứ có còn ai đâu. Một đời rong ruổi, đến tuổi này mới thấm mệt, mới thấy, cuối đời, quê hương vẫn là tất cả…” đang nói ông chợt quay qua anh hỏi giọng thân tình “Tết nhứt sắm sanh đã đủ đầy chưa?”. “Dạ, cũng có muối dưa, làm mứt. Đêm Giao thừa thì gói thêm mấy đòn bánh tét”. Anh Thà cùng người khách câu được câu không trò chuyện Tết nhứt trong làng giữa tiếng mái dầm đều đều khua nước.
Đò cập bến. Anh Thà chống cây sào neo vào sát bờ để người đàn ông bước lên. Trong khi người đàn ông còn loay hoay, anh đã nhanh nhẹn vác mấy chiếc túi lên bờ rồi quay lại đỡ ông.
“Cảm ơn anh! Chúc cả nhà đón mùa xuân an lành!” người đàn ông khẽ nói, dúi vào tay anh tờ tiền. “Không phải thối lại cho tôi đâu!” người đàn ông ân cần khoát tay rồi cúi xuống nhấc cành đào lên, đặt vào tay anh. “Cầm về chưng Tết! Coi như món quà tôi gửi tặng cả nhà!”. Nói rồi ông thoăn thoắt bước lên bờ, quàng vội mấy chiếc túi, quay đi. Thoáng chút ngỡ ngàng, anh Thà mới sực nhớ vội gọi với theo. “Cảm ơn ông! Chúc gia đình ông năm mới mạnh giỏi!”.
Chiếc bóng cao lớn đã hòa vào bóng đêm, anh Thà còn đứng yên nhìn theo. Cành đào trong tay anh hồng rực, rung rinh trong gió bấc. Giữa dòng sông mênh mang, chỉ còn anh với cành đào bé nhỏ như một lời nhắn nhủ lặng thầm: “Quê hương là tất cả”. Anh khẽ đặt cành đào vào lòng ghe, ngước nhìn những cụm mây bồng bềnh đang thong dong giữa bầu trời cao vời vợi.
Về đến cổng đã thấy con gái nhỏ bồn chồn đứng ngóng trông bên ngạch cửa. Vừa thấy bóng ba, con bé đã lao ra reo lên “Con ngủ mà mơ thấy ba, con giật mình dậy” đang huyên thuyên, chợt thấy cành hoa trên tay ba, con bé ngỡ ngàng vui mừng. Hai tay giơ cao cành đào, con bé chạy vô nhà khoe má.
Chị Thà bên bếp lửa cũng đứng lên sững sờ nhìn cành hoa hồng rực giữa nhà “Đẹp quá!”. Chị quay qua anh “Hoa ở đâu đẹp quá vậy mình?”. Anh Thà cười kéo vợ lại gần “Có ông khách qua đò ổng tặng nhà mình!”. Ánh mắt lóng lánh, cái cười nhẹ nhõm khiến gương mặt chị bừng sáng. Chị trèo lên giàn khiêng xuống cái rương, mở ra tìm chiếc bình sứ để cắm cành đào, đó là chiếc bình quý được truyền từ đời ông nội đến đời anh chị. Trên chiếc bàn gỗ, cành đào bung nụ khoe sắc. Bé Bi từ lúc ba về đến giờ, đứng ngồi không yên, cứ chạy vòng quanh ngắm cành hoa, tươi cười rạng rỡ.
Có tiếng dép loẹt quẹt chậm rãi bước qua thềm. Bà cụ Thêm nhà phía sau lom khom bước vô, tay xách hai cái bánh tổ, thêm bao bánh thuẫn. Bà lào khào gọi “Bi đâu! Bánh bà mới đổ xong còn nóng đây!”. Chị Thà đứng lên đỡ bà ngồi xuống. Bà Thêm vừa đấm thùm thụp vô lưng vừa chép miệng. “Mấy đứa nhỏ làm ăn xa chưa về tới. Bà ở nhà buồn, qua đây ngồi với bé Bi cho ấm”. “Phải đó bà! Bà qua đây ở với con luôn đi!”. Bi được thể chạy tới sà vào lòng bà Thêm, thỏ thẻ “Bà coi kìa! Năm nay nhà con có hoa đẹp!”. “Ờ ờ… bà ngồi đây coi hoa nở!”. Bà Thêm ôm con bé vào lòng hít hà mùi tóc thơm thơm. Bất giác, anh Thà cũng quờ qua nắm bàn tay vợ. Những chiếc bóng hắt lên vách trong ánh lửa bập bùng.
Xa xa tiếng chuông chùa Hạ vọng lại từng hồi, ngân rơi chầm chậm như tiếng lòng háo hức đón đợi một mùa xuân đang về trước ngõ…
Truyện ngắn của VŨ NGỌC GIAO
Nguồn: https://baocantho.com.vn/xuan-ben-ben-que-a197550.html






Bình luận (0)