Trong xu thế xanh hóa chung, các doanh nghiệp có thể tận dụng thời cơ đưa ra các sản phẩm đón đầu xu hướng carbon thấp, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đi tìm “hộ chiếu xanh”
Trong số 110 doanh nghiệp đầu tiên nhận quyết định phân bổ hạn ngạch phát thải từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Công ty CP Thép Việt Ý là một ví dụ điển hình cho tư duy chủ động. Với mức hạn ngạch hơn 33.000-38.000 tấn CO2 mỗi năm cho giai đoạn 2025–2026, doanh nghiệp này đã có sự chuẩn bị từ rất sớm để không bị động trước luật chơi mới.
Riêng trong giai đoạn 2018-2024, Thép Việt Ý tập trung cắt giảm các nguồn phát thải khí nhà kính trực tiếp (phạm vi 1) thông qua tối ưu quy trình sản xuất, áp dụng công nghệ lò điện hồ quang (EAF) sử dụng thép phế liệu tiên tiến và giảm dần lượng than, dầu sử dụng. Hiện nay, doanh nghiệp đặt trọng tâm vào giảm phát thải từ nguồn gián tiếp (phạm vi 2) bằng cách sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả. Định hướng dài hạn sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang năng lượng tái tạo, năng lượng thân thiện môi trường.
Nhà máy Thép Việt Ý chi nhánh Hải Phòng. Ảnh: ĐVCC.
Theo ông Lê Thành Bắc, Trưởng phòng An toàn, Công ty Thép Việt Ý chi nhánh Hải Phòng: Công ty hiện đã có các đơn hàng ổn định tại khu vực Đông Nam Á và một số nước châu Á. Để chuẩn bị tiến vào các thị trường khó tính như Mỹ và châu Âu, doanh nghiệp đã chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và các chỉ số "thép xanh". Cụ thể, Thép Việt Ý đã hoàn thành Báo cáo đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) và Công bố thông tin môi trường sản phẩm (EPD). Kết quả cho thấy sản phẩm của công ty đang tiệm cận với mức phát thải thấp của các quốc gia tiên tiến trong khu vực như Hàn Quốc và Nhật Bản.
Trong kiểm kê khí nhà kính, phạm vi 1 là phát thải do doanh nghiệp tự tạo ra từ các hoạt động trực tiếp.
Phạm vi 2 là phát thải gián tiếp từ việc sử dụng năng lượng mua của các nhà cung cấp.
Phạm vi 3 là phát thải gián tiếp từ chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay để sản phẩm tiệm cận hoàn toàn với tiêu chuẩn khắt khe của châu Âu (như cơ chế CBAM) lại phụ thuộc vào hai yếu tố khách quan bên ngoài. Đầu tiên, lượng phát thải gián tiếp (phạm vi 2) phụ thuộc vào "độ sạch" của nguồn điện lưới quốc gia. Do tỷ trọng nhiệt điện than còn lớn, hệ số phát thải trung bình của lưới điện Việt Nam vẫn ở mức cao. Bởi vậy, công nghệ sản xuất mới sử dụng điện nhiều hơn thay cho than, dầu thì sản phẩm thép vẫn có khả năng in "dấu chân carbon" cao từ nguồn điện đầu vào. Đồng nghĩa với doanh nghiệp phải trả thuế carbon nhiều hơn đối thủ sử dụng nguồn điện sạch.
Thứ hai, việc tính toán LCA bao gồm cả công đoạn vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm. Trong khi đó, hệ thống logistics của Việt Nam chưa tối ưu và phụ thuộc quá nhiều vào đường bộ nên hệ số phát thải từ quá trình vận chuyển cũng đẩy tổng lượng phát thải của sản phẩm lên cao.
Quy định hạn ngạch của Việt Nam hiện mới yêu cầu doanh nghiệp nộp trả hạn ngạch bằng lượng phát thải khí nhà kính trong phạm vi 1. Nhưng thực tế hiện nay, các thị trường xuất khẩu giá trị cao đã đưa ra những hàng rào quy định quản lý phát thải khí nhà kính cao hơn, và ngày càng chặt chẽ hơn. Đây là khoảng cách lớn mà doanh nghiệp cần sự chuyển dịch chung của hạ tầng quốc gia để có thể khỏa lấp trong tương lai.
Mở thị trường sản phẩm xanh đầy tiềm năng
Bài toán tương tự cũng đang diễn ra ở ngành xi măng – lĩnh vực có 51 nhà máy tham gia giai đoạn thí điểm phân bổ hạn ngạch của Việt Nam. PGS.TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) cho biết, ngành đang đối diện nguy cơ vượt trần hạn ngạch khoảng 14 triệu tấn CO2 tương đương.
Lý giải về sự "khó giảm" này, PGS.TS Lương Đức Long cho biết, công nghệ nung clinker truyền thống có một giới hạn vật lý không thể vượt qua. Ngay cả khi doanh nghiệp tối ưu hóa tiêu hao nhiệt lò nung đạt mức lý tưởng, quá trình phản ứng hóa học phân hủy đá vôi vẫn tạo ra phát thải cố định khoảng 525 kg CO2/tấn clinker. Do đó, tối ưu hiệu suất nhiệt chỉ giải quyết được phần ngọn. Dư địa giảm phát thải bằng công nghệ nung đã dần chạm ngưỡng cận biên khi tiêu hao nhiệt toàn ngành đã giảm sâu xuống mức trung bình 817 kcal/kg clinker.
Rất nhiều nhà máy xi măng trong nước đã đầu tư hệ thống phát điện tận dụng nhiệt khí thải (WHR) nhằm giảm phát thải CO2, tiết kiệm năng lượng. Ảnh: ĐVCC.
Đòn bẩy khả thi nhất từ nay đến năm 2030 là phải giảm tỷ lệ clinker trong xi măng hỗn hợp bằng cách mở rộng các loại phụ gia khoáng như đất sét nung, xỉ lò cao, tro bay pozzolan. Về dài hạn, giải pháp thu giữ và lưu trữ carbon mới là chìa khóa quyết định cho phần phát thải cốt lõi còn lại của ngành xi măng.
Trong bối cảnh hiện nay, PGS.TS Lương Đức Long đề xuất lộ trình giảm phát thải của ngành nên phân kỳ theo độ sẵn sàng công nghệ và chi phí tuân thủ. Giai đoạn đến năm 2030 tập trung toàn lực vào các giải pháp nền tảng, làm được ngay như tối ưu hiệu suất tiêu thụ nhiệt - điện, số hóa quy trình vận hành và đầu tư đồng bộ hệ thống tận dụng nhiệt thải phát điện. Đồng thời, các nhà máy sẽ chủ động nâng cao tỷ lệ sử dụng nhiên liệu thay thế từ rác thải, sinh khối và chuẩn hóa hệ thống dữ liệu kiểm kê theo tiêu chuẩn đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV).
Từ năm 2030-2040, trọng tâm dịch chuyển sang quá trình thay đổi cơ cấu vật liệu, ứng dụng các dòng sản phẩm hỗn hợp carbon thấp cũng như các chất kết dính thế hệ mới như đất sét nung, bê tông Geopolymer vào các phân khúc xây dựng phù hợp. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm định chất lượng phụ gia khoáng được xây dựng hoàn chỉnh. Đây cũng là thời điểm thị trường carbon trong nước chính thức vận hành và sẽ tăng thêm động lực tài chính xanh cho doanh nghiệp.
Sau năm 2040, ngành sẽ kích hoạt các công nghệ giảm phát thải sâu, đặc biệt là triển khai trên diện rộng giải pháp thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon để xử lý triệt để phần phát thải cốt lõi khó tránh còn lại. Việc áp dụng đại trà giải pháp công nghệ cao này đòi hỏi sự đồng bộ khi công nghệ thế giới thực sự chín muồi, hạ tầng lưu trữ quốc gia sẵn sàng và các cơ chế tài chính carbon được đảm bảo vững chắc.
Quá trình này song hành với lượng carbon hàm chứa trong sản phẩm xi măng sẽ ngày càng giảm đi và nếu đi nhanh, doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể làm chủ cuộc chơi ngay từ "sân nhà".
Các chuyên gia nhận định, phân khúc vật liệu xây dựng xanh phục vụ các công trình phát thải thấp có tiềm năng khổng lồ và đang được thúc đẩy mạnh mẽ bởi hai gọng kìm quyết định: Áp lực tuân thủ các tiêu chí ESG (Môi trường, Xã hội, Quản trị) từ các định chế tài chính quốc tế; những rào cản kỹ thuật khắt khe của hệ thống quy chuẩn xây dựng mới trong nước.
Để tiếp cận dòng vốn tín dụng xanh ưu đãi và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà phát triển dự án bắt buộc phải tối ưu hóa toàn bộ lượng phát thải tích lũy ngay từ khâu lựa chọn vật liệu đầu vào, đặc biệt là vật liệu đạt các tiêu chuẩn carbon thấp, chứng chỉ xanh quốc tế.
Kiểm kê khí nhà kính đúng theo hướng dẫn
Giai đoạn thí điểm phân bổ hạn ngạch từ nay đến năm 2028 thực chất là cơ hội để các doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến khẳng định lợi thế phát thải thấp của mình với sự công nhận của Nhà nước. Điểm đặc biệt cần lưu ý là xác định "dấu chân carbon của sản phẩm" với phạm vi hẹp, nhưng sâu hơn so với kiểm kê khí nhà kính thông thường.
Ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone (Cục Biến đổi khí hậu, Bộ NN-MT) nhấn mạnh: Doanh nghiệp phải tập trung xác định chính xác nguồn phát thải trực tiếp phạm vi 1 và các "bậc kiểm kê" (Tier) khác nhau cho từng nguồn phát thải.
Công đoạn sản xuất thép thô chiếm trên 85% tổng phát thải toàn ngành thép. Ảnh: ĐVCC.
Tính nhất quán trong việc sử dụng hệ số phát thải theo Quyết định số 2626/QĐ-BTNMT và áp dụng giá trị nhiệt trị ròng mặc định theo hướng dẫn của IPCC là "chìa khóa" để dữ liệu kiểm kê khí nhà kính của doanh nghiệp được chấp nhận, phê duyệt.
Đối với các nguồn phát thải trực tiếp từ đốt nhiên liệu hóa thạch, phương pháp bậc 1 (Tier 1) được áp dụng dựa trên các hệ số mặc định. Tuy nhiên, đối với các nguồn phát thải từ quá trình công nghiệp như tiêu thụ nguyên liệu trong luyện thép hay phân hủy cacbonat khi nung clanhke, doanh nghiệp sẽ áp dụng phương pháp bậc 2 (Tier 2). Việc áp dụng bậc 2 đòi hỏi dữ liệu chi tiết hơn, giúp phân loại chính xác những cơ sở đang sở hữu công nghệ tiên tiến, phát thải thấp so với những cơ sở có công nghệ lạc hậu hơn.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lưu ý sử dụng nhất quán hệ số phát thải theo Quyết định số 2626/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và các hệ số mặc định từ Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC).
Về nhiệt trị của nhiên liệu, trong giai đoạn thí điểm đến năm 2028, tất cả các doanh nghiệp đều áp dụng giá trị nhiệt trị ròng mặc định theo IPCC; hoặc các thông tư hướng dẫn MRV và kiểm kê khí nhà kính của các Bộ quản lý lĩnh vực. Trong các kỳ phân bổ sau này, khi năng lực cung cấp dữ liệu từ cơ sở cải thiện hơn, có thể tính tới việc sử dụng nhiệt trị riêng cho từng doanh nghiệp.
Theo ông Huy, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng lộ trình giảm phát thải dựa trên việc đánh giá kỹ lưỡng tiềm năng kỹ thuật, năng lực tài chính và mục tiêu tăng trưởng dài hạn của mình. Thực hiện tốt các bước này không chỉ giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro pháp lý mà còn tạo dựng uy tín vững chắc trên thị trường, tối ưu hóa chi phí sản xuất và mở ra cơ hội tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng xanh toàn cầu trong kỷ nguyên kinh tế carbon thấp.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/bien-ap-luc-giam-phat-thai-thanh-co-hoi-don-dau-d814049.html









Bình luận (0)