1.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa hẹn tôi trong một căn phòng khá đơn sơ, trên tầng 5 của Hội Nhà văn Việt Nam (số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hà Nội). Mặc dù đã xin nghỉ hưu và nhận lương hưu từ ngày 1/5 năm ngoái, nhưng hơn một năm nay Trần Đăng Khoa vẫn đảm trách chức vụ Phó Chủ tịch bởi còn phải chờ đến đại hội mới trả nốt được. Ông cũng đã trả căn phòng Phó Chủ tịch cho cơ quan, giờ ngồi chung với anh em biên tập Tạp chí Nhà văn & Cuộc sống, nơi mà ông từng giữ chức Tổng Biên tập. Tiếc thay hiện giờ Tạp chí này cũng đã dừng hoạt đồng được gần một năm rưỡi để chờ sắp xếp lại bộ máy.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa. Ảnh: Tùng Đinh.
Tình cảnh mà Trần Đăng Khoa nói với tôi, khá giống với cách đây hơn mười năm, khi ông xin nghỉ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng bộ Đài Tiếng nói Việt Nam, dù theo quy định của Đảng Ủy khối Cơ quan Trung ương lúc đó thì ông vẫn còn 18 tháng mới đến tuổi hưu nhưng rồi cũng trao phòng, trao chế độ xe làm nhân viên bình thường và theo điều động sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam.
Trở lại với buổi sáng hôm nay, ở tuổi gần 70 mà Trần Đăng Khoa vẫn hứng khởi, đầy năng lượng. Ông bảo: Vấn đề biển đảo các bạn đặt ra rất hay. Đây là đề tài lớn của văn học. Nó đề tài có tính nhân loại. Rất nhiều tác phẩm lớn, tác phẩm kinh điển thế giời từng viết về đề tài này: "Ông già và biển cả", "Robinxon Coruro", "Hai vạn dặm dưới biển", "Thuyền trưởng và Đại úy", "Đảo giấu vàng", "Titanic" và còn rất nhiều. Rất nhiều. Chúng ta đang ở kỷ nguyên vươn mình, kỷ nguyên Hội nhập. Ngày thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm nay cũng là Trước biển lớn. Bản thân ông cũng viết rất nhiều về biển đảo. Từ lúc còn trẻ, đang là chàng lính biển cho đến tận bây giờ. Biển đảo vẫn luôn thường trực trong ông.
“Biển đảo là đề tài vô tận, nhưng để viết về biển đảo hay lại không phải dễ”, thần đồng thơ một thuở đủng đỉnh. Ngay đơn giản nhất là chụp ảnh biển đảo cũng rất khó, vì chỗ nào cũng như chỗ nào. Mặc dù nhà thơ Hữu Thỉnh có câu rất hay "Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình", nhưng ngay có đảo thì biển đảo chỗ nào cũng giống nhau. Cũng vẫn lặp lại thôi. Khó thế. Chuyện nhẩn nha, tôi hỏi ông về cuốn tiểu thuyết mini Đảo chìm, cuốn sách lập kỷ lục có một không hai. Lần đầu ra mắt năm 2000, đến nay vừa tròn 26 năm mà năm 2025 mà đã tái bản hơn 50 lần.
Trần Đăng Khoa và ký ức biển đảo. Ảnh: Tùng Đinh.
Trần Đăng Khoa bảo, gọi tiểu thuyết, nhưng đây lại là truyện thật mà ông không hề hư cấu, bịa đặt. Chuyện xảy ra ở Đảo Chìm. Thực chất nó là đảo Thuyền Chài, hiện vẫn chỉ là vỉa sanh hô ngầm, còn ngập dưới nước khoảng chừng 3 mét. Lính dựng lều bạt trên biển để canh giữ. Nhưng không chỉ viết về hòn đảo chìm, ông còn viết cả về những hòn đảo nổi. Lính Đảo Chìm gọi là Thủ đô Trường Sa. Thủ đô Trường Sa là một hòn đảo rất bé. Nó bé tới mức, người đời khó mà tưởng tượng được. Đến nỗi, một nhà thơ sau này đã phải thốt lên: “Đảo nhỏ quá, nói một câu là hết”. Trần Đăng Khoa đã tới cái hòn đảo nhỏ đên mức, chưa “nói một chữ” cũng đã hết rồi. Nó chỉ là một vũng cát mặn lờ phờ, to chừng một cái nong phơi thóc, vừa đủ chỗ để dựng một cái lều bạt dã chiến.
Trần Đăng Khoa kể: Thượng tướng Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương cũng đã đến đây, đã ngủ một đêm trên hòn đảo này trong một chuyến đi tuần biển. Vất vả không, các cậu? Tư lệnh hỏi một anh lính trẻ, tóc đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, người chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa. Cậu lính trẻ cười khì khì: Báo cáo bố, cũng tàm tạm thôi ạ!
Ở đây thì mọi thứ đều thiếu thốn rồi - Giọng Tư lệnh bùi ngùi - Nhưng cái gì cần nhất, cấp thiết nhất, các cậu cứ nói thẳng với mình. Bộ Tư lệnh sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ các cậu.
Thế bố cho con được nói thật nhé! Ừ, thì phải nói thật chứ! - Tư lệnh mỉm cười - Chả lẽ tớ già thế này, còn lặn lội vượt sóng gió ra đây với các cậu, để rồi rốt cuộc, lại nghe các cậu nói dối à? Nhưng bố không được phê phán con lãng mạn cơ... Cái thằng! Tao còn lãng mạn hơn mày ấy!
Anh lính trẻ nhìn mái đầu bạc trắng của Tư lệnh, cười hồn nhiên: Thế thì, con đề nghị bố thế này nhé! Bận sau, nếu bố ra đảo, bố chịu khó giắt lưng mang theo ra đây cho chúng con vài cô gái... Anh lính trẻ bỗng bối rối trước cái nhìn ngỡ ngàng của Tư lệnh. Thì con đã vòi bố trước rồi, là bố phải tha cho con, không được phê phán con lãng mạn! Chúng mày muốn nghe hát hả? Muốn xem văn công chứ gì? Không, không! - Anh lính bỗng luống cuống - Con đâu dám có voi đòi tiên! Văn công xem ra xa vời quá! Cúng con chỉ muốn bố mang ra đây vài cô nuôi quân thôi! Các cô ấy chẳng phải hát hò gì, cũng không phải nấu nướng hay làm bất cứ việc gì. Chúng con đảm đương tất. Chỉ xin các cô mặc tấm áo phin trắng, cái quần lụa đen, đi phơ phất trên đảo, để chúng con ngắm, chúng con “chỉnh” mắt. Chứ mắt mũi chúng con, bố thấy đấy, sang vành hết cả rồi! Tư lệnh cười ha hả. Anh lính trẻ cũng cười. Chưa bao giờ Trần Đăng Khoa được nghe cuộc đối thoại kỳ lạ như thế.
Sau đó, quả như niềm ao ước của anh lính trẻ, các cô gái lần lượt ra thăm đảo. Không phải cánh nuôi quân mà các cô văn công mặt hoa da phấn hẳn hoi. Trông cô nào cũng đẹp, cũng thơm phức và lộng lẫy như những nàng tiên cá. Các cô múa hát và khâu vá cho chiến sĩ. Nhiều anh áo quần còn mới nguyên, cũng bí mật xé ra, rồi nhờ các cô vá hộ. Thế rồi từ đấy, lần nào Tư lệnh ra đảo, các chiến sĩ cũng được dự những bữa tiệc mắt linh đình.
Nhưng đó là chuyện mãi sau này, còn chiều ấy, như có lần tâm sự riêng với Trần Đăng Khoa, ông bảo, ông rất khổ tâm vì đã phải làm một việc khó nhất trong đời làm tướng: Cắt phép của lính. Hồi ấy có người ở đảo đến bốn năm, thậm chí gần chục năm liền, chứ không như sau này, người lính chỉ ở đảo hai năm, mà đảo thì thiếu thốn đủ thứ. Tư lệnh bảo: “Tớ đâu có muốn đày đọa các cậu. Nhưng đây là Tổ quốc của mình, máu thịt của mình. Giá trị gì mấy vốc cát này? Nhưng ta giữ có phải giữ mấy vốc cát với vài hòn đá cỗi cằn kia đâu, mà giữ biển đấy chứ. Mất đảo là mất biển, mà biển lại bao bọc suốt từ Bắc đến Nam. Tất cả kẻ thù đánh ta đều đi từ biển. Pháp vào ta qua cảng biển, Mỹ đến ta cũng qua cảng biển. Gần kề ta núi liền núi, sông liền sông mà bọn Ô Mã Nhi xưa cũng vào ta bằng cửa bể Bạch Đằng. Thế thì chúng ta phải giữ đảo, giữ biển thôi. Khổ mấy cũng phải giữ. Có chết cũng phải giữ.
Còn việc về phép của các cậu, chúng tớ có tiếc gì đâu. Nhưng Bộ Tư lệnh nghèo quá. Cả nước cũng đang nghèo. Đưa một cậu về phép, Bộ Tư lệnh phải mất 20 tấn dầu cho cả tàu ra tàu về. Mà dầu thì phải mua của nước ngoài, mua rất đắt.
Ngồi bên Tư lệnh trên mặt cát nóng bỏng như rang, mặc dù mặt trời đã lặn xuống biển lâu rồi, cậu lính trẻ quê xứ Nghệ thực sự coi Tư lệnh như một người đồng đội thân thiết. Anh lắc lắc đầu gối Tư lệnh: Bố thấy Vuơng quốc của chúng con thế nào? Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió, tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã. Đẹp, nền nếp. Đúng quân phong quân kỷ.
Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày khổ quá! Tao biết! Nhưng khốn nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, thì dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này, bố con mình cũng phải gìn giữ, một tấc không đi, một ly không rời, dẫu có phải đổi bằng tính mạng, xương máu...
Vâng, con hiểu! Con hiểu, bố ạ! Tư lệnh ôm lấy đôi vai trần cháy khét nắng gió của chàng lính trẻ xứ Nghệ. Đôi mắt ông bỗng cay xè, ầng ậng nước. Anh lính trẻ cũng nắm chặt bàn tay xù xì thô ráp của Tư lệnh: Bố đừng lo! Chúng con ở đây quen rồi! Khổ mấy chúng con cũng chịu được! Không kẻ thù nào cướp được đảo của mình đâu. Bố yên tâm! Nhưng đúng như bố nói đấy. Rất vất vả, cực nhọc. Nhiều lúc mệt quá, con liều nghĩ, hay là ta cứ tạm giấu quách đảo đi!
Tư lệnh ngạc nhiên: Giấu đảo à? Mày nói gì lạ thế? Giấu thế nào? Anh lính trẻ vui vẻ: Bố cứ cho con mượn tạm cái xẻng. Và sáng sớm hôm sau, khi Tư lệnh đánh xuồng trở lại đảo thì thấy anh chàng đang cởi trần, xì xụp lặn ngụp cùng với chiếc xẻng của Tư lệnh. Nhưng anh không xúc cát đổ xuống biển, mà lấy cán xẻng khẽ bẩy từng tảng đá san hô chìm sâu dưới mấy mét nước, rồi lụi cụi khuân lên, đắp quanh chân đảo, giữ cho cát khỏi bay. Mày làm cái gì thế? Giấu đảo à? Tư lệnh hỏi. Dạ, báo cáo bố, con đang mở mang... bờ cõi ạ! - Anh lính cười khục khục, gương mặt nhấp nhóa nước - Mà đúng ra, con chỉ “buông neo” cho Tổ quốc khỏi bị trôi dạt thôi!
Nhà thơ Trần Đăng Khoa trò chuyện với Báo Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Tùng Đinh.
2.
Buổi trà sáng hôm nay ở Hội Nhà văn Việt Nam, ngoài tôi với Trần Đăng Khoa còn có ông Nguyễn Chu Nhạc, một người bạn văn chương và cũng là bằng hữu với thần đồng thơ một thuở. Theo ông Nhạc, những trang viết về biển đảo của Trần Đăng Khoa là một trường hợp đặc biệt của văn học Việt Nam đương đại.
Nguyễn Chu Nhạc cho rằng lợi thế lớn nhất của Trần Đăng Khoa nằm ở chỗ nhà thơ không chỉ viết bằng trí tưởng tượng hay sự đồng cảm, mà còn bằng những trải nghiệm thực tế sâu sắc của một người lính hải quân từng nhiều lần đến với Trường Sa từ những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất.
Trong cảm nhận của Nguyễn Chu Nhạc, Trần Đăng Khoa là một trong những cây bút xuất sắc nhất hiện nay khi viết về biển, ở cả thơ và văn xuôi.
Những trang viết của ông có được độ chân thực hiếm thấy bởi phía sau mỗi câu chữ là vốn sống được tích lũy qua năm tháng gắn bó với biển đảo và người lính. Chính điều đó tạo nên sức nặng cho tác phẩm, giúp người đọc cảm nhận được hơi thở của cuộc sống nơi đầu sóng ngọn gió.
Đặc biệt, khi nói về tác phẩm Đảo chìm, Nguyễn Chu Nhạc dành nhiều lời ngợi khen. Theo ông, dù có dung lượng không lớn nhưng cuốn sách lại chứa đựng một sức nén đáng kinh ngạc về ngôn ngữ và tư tưởng. Chất thơ vốn có của Trần Đăng Khoa khiến những đoạn tả cảnh biển, tả tâm trạng hay khắc họa con người đều rất đọng, giàu sức gợi. Nhà phê bình này hình dung Đảo chìm như một vở chính kịch nhiều hồi, trong đó mỗi chương sách là một màn diễn với những nhân vật và tình huống riêng biệt nhưng liên kết chặt chẽ với nhau. Một trong những điểm khiến ông ấn tượng là cách Trần Đăng Khoa sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực. Giữa những khó khăn, thiếu thốn và hiểm nguy nơi đảo xa, nhà văn không sa vào bi lụy mà lựa chọn giọng điệu hóm hỉnh, đôi khi tinh nghịch.
Trần Đăng Khoa là cây bút xuất sắc về biển đảo. Ảnh: Tùng Đinh.
Nguyễn Chu Nhạc đặc biệt nhắc tới hình tượng “con lợn”, thực chất là một con chó, như một nhân vật hề trong sân khấu chèo dân gian, góp phần tạo nên sự sinh động và kết nối các tuyến nội dung của tác phẩm. Tuy nhiên, điều làm nên giá trị bền vững của Đảo chìm, theo Nguyễn Chu Nhạc, không chỉ nằm ở nghệ thuật kể chuyện. Ông cho rằng nếu thơ về biển của Trần Đăng Khoa đã tạo được dấu ấn rộng rãi trong công chúng, thì văn xuôi của ông trong Đảo chìm lại mang một sức nặng tư tưởng đặc biệt. Nhà văn không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi người lính hay vẻ đẹp của biển đảo, mà còn đi sâu vào những vấn đề thuộc về thân phận con người.
Nguyễn Chu Nhạc đặc biệt xúc động trước những trang viết về sự hy sinh của người lính biển. Đó là những cái chết không được mô tả theo cách bi tráng thông thường, mà hiện lên với tất cả sự day dứt, xót xa và ám ảnh. Những chi tiết ấy tạo nên một lớp “dư ba” cảm xúc kéo dài rất lâu sau khi người đọc gấp sách lại. Theo ông, đây chính là dấu hiệu của một tác phẩm có chiều sâu nhân văn và sức sống lâu bền.
Dường như trong mắt Nguyễn Chu Nhạc, Trần Đăng Khoa không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng mà còn là một cây bút văn xuôi hàng đầu về đề tài biển đảo. Từ những trải nghiệm của người lính hải quân đến tài năng ngôn từ của một thi sĩ, ông đã biến những gian lao, mất mát và vẻ đẹp của biển đảo Việt Nam thành những trang văn giàu chất nghệ thuật, thấm đẫm tinh thần nhân văn và để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc.
Nhà văn Nguyễn Chu Nhạc. Ảnh: Tùng Đinh.
3.
Trở lại với đề tài biển đảo, Trần Đăng Khoa ngẫm ngợi: Biển dữ dội nhưng luôn mới mẻ và ẩn chứa nhiều bí ẩn chờ đợi chúng ta khám phá, tìm tòi. Biển là đề tài vô tận của văn học nghệ thuật, nhưng thực văn học nghệ thuật nước nhà chưa thực sự có nhiều tác phẩm xứng tầm với đề tài biển đảo. Nói nôm na, mảng đề tài này luôn là kho báu vô tận nhưng chúng ta chưa khai thác được những giá trị quý báu nhất. Nên chăng Báo Nông nghiệp và Môi trường cần tổ chức một cuộc thi viết cấp quốc gia về đề tài biển đảo?
Rồi ông tự kiến giải, giá trị của biển, trước hết là nguồn sống tự bao đời qua của một dân tộc “tam sơn, tứ hải”, biển cho ta từ tôm cá cho đến từng hạt muối ở trong mỗi góc nhà và cùng với nguồn sống, biển đảo còn là thành tố của đất nước, là biên giới hải đảo, là chủ quyền quốc gia không thể tách rời.
Trần Đăng Khoa nổi tiếng với các tác phẩm về biển đảo như tiểu thuyết Đảo chìm và bài thơ THơ tình người lính biển. Ảnh: Tùng Đinh.
Và lãng mạn. Cái chất lãng mạn ấy của biển cho đến hôm nay vẫn còn vô tận. Ở phía ngoài khơi xa ấy vẫn là những người lính đảo canh giữ biển trời, giữa không gian mênh mông sóng cả, một phần đất nước đồng bào ta vẫn mỗi ngày ra đấy mưu sinh, góp phần giữ gìn lãnh hải Tổ quốc.
Vòm trời kia có thể sẽ không em/Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ/Cho dù thế thì anh vẫn nhớ/Biển một bên và em một bên...
Trần Đăng Khoa cao hứng đọc mấy câu thơ trong bài Thơ tình người lính biển do chính ông sáng tác từ năm 1981.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/bien-dao-voi-tran-dang-khoa-d815273.html












