LTS: Biển đã nuôi dưỡng dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử, mở ra những con đường giao thương, tạo dựng sinh kế cho hàng triệu người dân và góp phần định hình vị thế quốc gia. Trong kỷ nguyên mới, biển đang đứng trước một sứ mệnh lớn hơn: trở thành động lực phát triển mới của đất nước.
Từ góc nhìn của một người đã dành phần lớn cuộc đời cho ngành thủy sản và kinh tế biển Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc chia sẻ những suy ngẫm về hành trình mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển và những điều Việt Nam cần làm để bước vào kỷ nguyên hướng biển một cách bền vững.
Khát vọng giàu từ biển vẫn ở phía trước
Có lẽ chưa bao giờ câu chuyện về biển lại được nhắc đến nhiều như hiện nay. Từ những dự án điện gió ngoài khơi, các cảng biển nước sâu gắn với những tuyến hàng hải quốc tế và hệ thống logistic trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, đến các dự án nuôi biển, hay kinh tế biển xanh, tất cả đang cho thấy biển ngày càng trở thành một không gian phát triển quan trọng của đất nước.
TS. Tạ Quang Ngọc, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy Sản. Ảnh: Đinh Đức Tùng.
Mỗi lần nghe nhắc đến những câu chuyện ấy, tôi lại nhớ đến Nghị quyết 09 NQ/TW ngày 9/2/2007 của Hội nghị lần thứ Tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Lần đầu tiên, khát vọng "mạnh về biển và giàu lên từ biển" được đặt ra như một mệnh đề quan trọng mang vai trò định hướng phát triển lớn của quốc gia. Sau Nghị quyết 09 là Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 đã nhấn mạnh phát triển bền vững và tăng trưởng xanh kinh tế biển.
Đã gần hai thập kỷ trôi qua, đến hôm nay, sau nhiều năm nhìn lại, tôi cho rằng khát vọng ấy vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều người hỏi tôi Việt Nam đã mạnh về biển và giàu lên từ biển hay chưa? Tôi cho rằng chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng hành trình ấy vẫn còn ở phía trước. Chừng nào còn khát vọng thì chừng đó vẫn còn phải tiếp tục phấn đấu. Chúng ta đã đi được một quãng đường dài, song vẫn còn nhiều dư địa để phát triển và cũng còn không ít thách thức phải vượt qua.
Khi nói về kết quả hoạt động kinh tế biển, người ta thường nhắc đến tỷ trọng trong GDP hay các con số tăng trưởng nhưng theo tôi, phía sau những con số ấy còn là sinh kế và đời sống (cả vật chất và tinh thần) của hàng chục triệu người dân ven biển, là môi trường sinh thái, là quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia, là phải tìm cách thích ứng nhưng cũng có khi phải đương đầu với biến đổi khí hậu. Đó là điểm khác biệt cốt lõi của kinh tế biển so với các ngành nghề khác. Thực tế hiện nay đang tồn tại một nghịch lý: có những tiềm năng chúng ta chưa khai thác được, nhưng lại có những nguồn tài nguyên đang bị khai thác quá mức, môi trường và tài nguyên biển đứng trước những thách thức lớn trong bức tranh phát triển chung. Sự dịch chuyển về địa lý của một số ngành kinh tế ra hướng biển là đúng đắn nhưng đôi khi mang tính tự phát với cách nhìn phiến diện, cũng có khi tùy tiện theo lợi ích trước mắt để lại những hệ lụy môi trường sinh thái không hề đơn giản.
Chưa bao giờ hiểu biết của chúng ta về biển của mình lại bất cập như lúc này, trong khi nhu cầu phát triển các ngành kinh tế vươn ra biển lại cao hơn bao giờ hết. Chúng ta thiếu một kho dữ liệu vừa tổng quan, vừa tỉ mỉ đến mức đủ để làm cơ sở hoạch định chính sách và là cơ sở cho tư duy quản lý. Chúng ta mất bao công phu lập các khu bảo tồn biển từ Bắc vào Nam trong hơn hai thập kỷ qua, ấy vậy mà vẫn có những vùng bảo tồn bị xâm phạm hay làm tổn thương. Tăng trưởng xanh không thể mãi là một "bài ca hy vọng", mà phải được cụ thể hóa bằng hành động: cái gì lợi cho sinh thái thì làm, cái gì phá vỡ cân bằng sinh thái thì kiên quyết loại bỏ. Đó là một trong những giá trị cốt lõi quyết định sự phát triển bền vững của kinh tế biển Việt Nam.
Sứ mệnh của thủy sản và “đạo đức nghề biển”
Trong bức tranh toàn cảnh ấy, thủy sản mang một thông điệp và sứ mệnh vô cùng đặc biệt. Không giống như việc khai thác các tài nguyên không tái tạo, thủy sản hoàn toàn dựa vào hệ sinh thái, trong đó sinh vật có thể tái tạo và luôn phải được duy trì mức độ tái tạo đủ cao cho sự phát triển bền vững, cho nhu cầu thực phẩm và sinh kế lâu dài.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng: Xưa nay trong dân gian, khi nói đến ngành kinh tế biển người ta điểm ra tên các ngành khác nhau, nhưng nói đến nghề biển, ngụ ý của hai từ đó chỉ là về nghề cá!
Nhờ những nỗ lực ứng dụng khoa học kỹ thuật xuất sắc, đặc biệt là việc tự chủ được công nghệ con giống, về kỹ thuật nuôi và thức ăn, ngành thủy sản Việt Nam đã tạo ra những bước tiến vượt bậc, đưa lĩnh vực nuôi trồng thủy sản phát triển vượt trội. Nuôi thủy sản hàng hóa với năng suất cao các đối tượng giá trị đã là một cơ sở quan trọng để phát triển mạnh xuất khẩu thủy sản suốt hơn 3 thập kỷ qua.
Chúng ta tự hào nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, năm 2025 giá trị xuất khẩu thủy sản đạt hơn 11 tỷ USD, tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc chuyển đổi cơ cấu rất nhanh, đưa sản lượng nuôi trồng vượt qua sản lượng đánh bắt tự nhiên, chính là sự đóng góp to lớn của Việt Nam vào an ninh lương thực toàn cầu và là một tiền đề, một cứu cánh quan trọng của cuộc cách mạng chuyển đổi xanh trong nghề cá nói chung.
Tuy nhiên hoạt động khai thác tài nguyên biển đang gặp nhiều khó khăn làm giảm thu nhập của ngư dân, giảm hiệu quả kinh tế và luôn thường trực các nguy cơ suy giảm, cạn kiệt tài nguyên. Những khó khăn đó nảy sinh do nhiều yếu tố, tuy nhiên có thể gom lại ở 3 nhóm các hạn chế: Hạn chế về năng lực thích ứng chuyển đổi xanh và chất lượng tổng hợp nguồn nhân lực; hạn chế về năng lực đáp ứng các luận cứ phát triển và kỹ thuật hành nghề của lĩnh vực khoa học và công nghệ và hạn chế về năng lực quản lý theo tiếp cận hiện đại của tăng trường xanh.
Nguyên Bộ trưởng cho biết ngành thủy sản đã đạt được những thành tựu lớn sau hơn 30 năm phát triển và đổi mới. Ảnh: Đinh Đức Tùng.
Từ câu chuyện của ngành thủy sản, tôi nghĩ đến câu chuyện rộng hơn của kinh tế biển Việt Nam. Muốn phát triển biển hiệu quả thì phải dựa trên tri thức, khoa học và đổi mới sáng tạo. Khai thác tài nguyên theo cách rời rạc và lạc hậu sẽ không thể tạo ra sức bật cho một quốc gia biển trong kỷ nguyên mới.
Tăng trưởng xanh chưa có đột phá
Những năm gần đây, thế giới nói nhiều đến Blue Economy - kinh tế biển xanh. Tăng trưởng xanh đã trở thành xu thế tất yếu của thế giới và phải là yêu cầu bắt buộc đối với các quốc gia có biển. Biển tạo ra của cải cho xã hội, nhưng đồng thời phải được bảo vệ và phát triển để tiếp tục nuôi dưỡng các thế hệ mai sau bằng thực phẩm, bằng sinh kế.
Sáng kiến Chuyển đổi Xanh (BlueTransformation) được định hình từ đầu thế kỷ XXI và được phát biểu chính thức vào năm đầu thập niên này với tầm nhìn được định hướng theo các mục tiêu cơ bản:
Mục tiêu đầu tiên là đảm bảo việc tăng cường và mở rộng nuôi trồng thủy sản bền vững tiếp tục đáp ứng nhu cầu toàn cầu về thực phẩm thủy sản, đặc biệt là ở các khu vực thiếu lương thực.
Mục tiêu thứ hai là đảm bảo quản lý hiệu quả tất cả các nghề cá biển và nội địa, theo phương pháp tiếp cận dựa trên hệ sinh thái. Chúng ta cũng hướng đến việc loại bỏ hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không được báo cáo và không được quản lý (IUU), với tất cả những phức tạp của nó.
Mục tiêu thứ ba của sáng kiến Chuyển đổi Xanh là nâng cấp và phát triển chuỗi giá trị thực phẩm thủy sản, giảm thiểu thất thoát và lãng phí, thúc đẩy tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc, đồng thời đảm bảo lợi nhuận xứng đáng và công bằng cho những người mà sinh kế dựa vào ngành này.
Tôi nghĩ, đây cũng là 3 mục tiêu chuyển đổi xanh của ngành thủy sản nước ta.
Việt Nam đang ở đâu khi đối chiếu hiện trạng chúng ta đang có với việc thực hiện 3 mục tiêu này? Tôi thực sự cảm nhận được những điều phải lo lắng. Những điều đó nằm ngay trong hoạt động của ngành thủy sản, nhưng cũng không ít sự việc xuất phát từ những ngành, lĩnh vực khác như tệ nạn xả thải thiếu kiểm soát, các hoạt động gây hại tới mức độ đa dạng sinh học và khả năng tái tạo nguồn lợi ở các vùng cửa sông, đầm phá, eo vịnh ven biển… Khắc phục những điều đó phải là việc trước tiên khi bắt tay vào xây dựng quy hoạch và hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển.
Trong khi đó, gần đây những kết quả nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái biển gắn với động thái phát triển của các ngành, nhất là ngành thủy sản còn ít và chưa xứng tầm, về khả năng chịu tải của môi trường hay về tác động giữa các ngành với nhau vẫn còn thiếu. Điều đó cho thấy cái nhìn tổng thể về biển đôi khi vẫn chưa đủ sâu. Muốn phát triển kinh tế biển bền vững thì phải hiểu biển trước đã. Muốn hiểu biển phải có đủ dữ liệu. Tôi cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh điều tra nghiên cứu phương diện này, lấy bảo đảm sự bền vững của môi trường sinh thái và tránh xảy ra các sự cố môi trường làm gốc để có một kho dữ liệu chắc chắn.
TS. Tạ Quang Ngọc dành phần lớn cuộc đời cho ngành thủy sản và kinh tế biển Việt Nam. Ảnh: Đinh Đức Tùng.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương. Việt Nam với vùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km² không gian biển, có vị trí địa chiến lược đặc biệt, có truyền thống gắn bó với biển từ hàng nghìn năm nay và có những thành tựu đáng tự hào trong phát triển kinh tế biển sẽ có những bước tiến đáng kể theo hướng mạnh về biển và giàu lên từ biển.
Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên không tự biến thành sức mạnh quốc gia. Tầm nhìn và một quy hoạch tổng thể đúng đắn có luận cứ khoa học cao, bao quát tổng thể và coi trọng thực tiễn phát triển của mọi ngành trong đó sẽ là nhân tố quyết định.
Biển là không gian sinh tồn, là tương lai phát triển và cũng là chủ quyền quốc gia. Khi biết trân trọng biển như một tài sản vô giá của dân tộc, khi ý Đảng và lòng dân cùng hướng về biển, tôi tin rằng khát vọng mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển của Việt Nam sẽ trở thành hiện thực.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/nguyen-bo-truong-bo-thuy-san-ta-quang-ngoc-bien-van-la-loi-hen-cua-tuong-lai-d816308.html








