“Lá chắn” an toàn sinh học
Những năm gần đây, bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam. Với đặc điểm lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, dịch bệnh này đã gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi, ảnh hưởng đến nguồn cung thực phẩm và sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và các giải pháp an toàn sinh học phù hợp với điều kiện thực tế của nông hộ được xem là hướng đi quan trọng nhằm giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh.
Tập huấn triển khai mô hình đến từng hộ chăn nuôi. Ảnh: Thanh Nga.
Tại Hà Tĩnh, từ những khó khăn trong công tác phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi, sáng kiến “Quy trình chăn nuôi không tiếp xúc trong phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ” đã được cán bộ chuyên môn Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi Hà Tĩnh xây dựng, ứng dụng thành công tại 10 hộ dân thuộc 2 thôn Trà Sơn và Hồng Sơn của xã Trường Lưu, góp phần bảo vệ đàn vật nuôi trước nguy cơ dịch bệnh.
Bà Hoàng Thị Ngọc Diệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi Hà Tĩnh - tác giả sáng kiến phân tích: Năm 2025, dịch tả lợn Châu Phi diễn biến hết sức phức tạp trên phạm vi cả nước với hơn 2.200 ổ dịch, làm trên 1,1 triệu con lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy. Riêng tại Hà Tĩnh, dịch bệnh xảy ra tại 63 xã, phường với hơn 36.500 con lợn bị tiêu hủy. Đáng chú ý, phần lớn các ổ dịch tập trung ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, nơi điều kiện chuồng trại và việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học còn nhiều hạn chế.
Qua khảo sát thực tế tại xã Trường Lưu, các cán bộ chuyên môn nhận thấy nhiều hộ dân vẫn duy trì tập quán chăn nuôi truyền thống, chưa kiểm soát chặt chẽ người ra vào khu vực nuôi cũng như thức ăn, dụng cụ, phương tiện vận chuyển và các yếu tố trung gian truyền bệnh như chuột, ruồi, muỗi. Đây chính là những “mắt xích” tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào chuồng nuôi.
Từ thực tiễn đó, nhóm tác giả đã nghiên cứu và xây dựng quy trình chăn nuôi không tiếp xúc dựa trên nguyên tắc cốt lõi của an toàn sinh học hiện đại là ngăn chặn tối đa mọi khả năng tiếp xúc giữa mầm bệnh với đàn vật nuôi.
Các giải pháp ngăn chặn côn trùng, chuột bọ được hộ chăn nuôi triển khai theo khuyến cáo. Ảnh: Thanh Nga.
Điểm mới của giải pháp không nằm ở việc đầu tư các thiết bị đắt tiền mà ở cách tổ chức lại toàn bộ quy trình chăn nuôi theo hướng kiểm soát chặt chẽ các nguy cơ lây nhiễm. Theo đó, khu vực chăn nuôi được bao quanh bằng hệ thống lưới chống côn trùng và động vật trung gian, chỉ duy trì một lối ra vào duy nhất để thuận lợi cho việc kiểm soát. Chuồng nuôi được thiết lập như những “ốc đảo sinh học”, được bao vây bằng đường nước vôi nhằm hạn chế sự xâm nhập của mầm bệnh từ môi trường bên ngoài.
Một trong những tiến bộ kỹ thuật được áp dụng là quy trình sát trùng nhiều lớp đối với thức ăn, vật tư và con người trước khi tiếp cận khu vực chăn nuôi. Kho chứa thức ăn được bố trí riêng biệt, bảo đảm kín, chống chuột và côn trùng. Thức ăn, dụng cụ và vật tư sau khi nhập kho đều được phun sát trùng hoặc xông khử khuẩn trước khi sử dụng. Người chăm sóc đàn lợn phải thực hiện các bước khử trùng tay chân, thay bảo hộ lao động và hạn chế thấp nhất các hoạt động có nguy cơ mang mầm bệnh từ bên ngoài vào chuồng nuôi.
Giải pháp cũng chú trọng đến việc lựa chọn con giống an toàn. Lợn giống phải được nhập từ các cơ sở có uy tín, có giấy kiểm dịch và kết quả xét nghiệm âm tính với bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Toàn bộ quy trình từ nhập giống, chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến quản lý chất thải đều được thực hiện theo hướng dẫn an toàn sinh học.
Đàn lợn trong vùng dịch được bảo vệ an toàn nhờ giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Ảnh: Thanh Nga.
Điều đáng chú ý, phần lớn các hạng mục của mô hình đều có thể thực hiện bằng những vật tư sẵn có tại địa phương như lưới chắn côn trùng, vôi bột, bình phun sát trùng, đồ bảo hộ lao động. Chi phí đầu tư cho một cơ sở quy mô khoảng 100 con lợn chỉ khoảng 3 triệu đồng, phù hợp với khả năng của các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.
Hiệu quả rõ rệt
Sau quá trình khảo sát, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức tập huấn, mô hình chăn nuôi không tiếp xúc đã được triển khai tại nhiều hộ chăn nuôi ở thôn Hồng Sơn và Trà Sơn của xã Trường Lưu. Đây đều là những hộ đang duy trì đàn lợn nái sinh sản và lợn thịt trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp trên địa bàn.
Kết quả theo dõi cho thấy, trong khi dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục xuất hiện tại nhiều hộ dân trong xã làm hàng trăm con lợn mắc bệnh và chết phải tiêu hủy thì 10 hộ áp dụng mô hình chăn nuôi không tiếp xúc vẫn duy trì đàn vật nuôi khỏe mạnh, không phát sinh dịch bệnh. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận bởi mô hình được triển khai ngay trong vùng đang có dịch.
Bao vây khu vực chuồng nuôi bằng đường nước vôi. Ảnh: Thanh Nga.
Gia đình anh Nguyễn Sỹ Thạch ở thôn Trà Sơn, xã Trường Lưu chăn nuôi lợn hàng chục năm nay. Tuy nhiên, hệ thống chuồng trại, quy trình phòng chống dịch bệnh còn khá sơ sài do quy mô đầu tư hạn chế. Năm 2025, dịch tả lợn Châu Phi quần thảo trên cả nước, 232 con lợn nái và lợn thịt của gia đình anh cũng nằm trong vùng “báo động đỏ”.
Thông qua vận động của ngành chuyên môn và chính quyền địa phương, anh Thạch đăng ký tham gia ứng dụng mô hình chăn nuôi lợn không tiếp xúc. Toàn bộ quy trình từ cải tạo chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi đến kiểm soát người, phương tiện, thức ăn, nước uống, vệ sinh, sát trùng, quản lý chất thải chăn nuôi, kiểm soát côn trùng, động vật trung gian, tái đàn lợn... đều được cán bộ kỹ thuật “cầm tay chỉ việc”, khắc phục các tồn tại lâu nay trong chăn nuôi nông hộ.
“Nếu trước đây chúng tôi chỉ chú trọng xử lý khi dịch bệnh đã xảy ra thì nay đã chuyển sang tư duy phòng bệnh chủ động. Chúng tôi biết cách quan tâm hơn đến việc kiểm soát nguồn giống, thức ăn, nước uống, vệ sinh môi trường và các nguy cơ lây nhiễm từ bên ngoài”, anh Thạch nói.
Thay đổi tư duy vừa tạo tiền đề vừa mang lại giá trị về mặt kinh tế. Chỉ cần một đợt bùng phát dịch tả lợn Châu Phi, người chăn nuôi có thể mất trắng cả đàn lợn, kéo theo chi phí tiêu hủy, vệ sinh, tái đàn và thời gian phục hồi sản xuất. Trong khi đó, việc đầu tư một khoản kinh phí nhỏ để thực hiện các biện pháp chăn nuôi không tiếp xúc giúp giảm từ 50 - 80% nguy cơ xâm nhập của mầm bệnh, nâng tỷ lệ nuôi sống lên trên 95%.
Quy trình chăn nuôi không tiếp xúc được hướng dẫn tại hộ dân. Ảnh: Thanh Nga.
Mô hình còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nguy cơ phát tán mầm bệnh ra cộng đồng. Khi các biện pháp an toàn sinh học được thực hiện nghiêm túc, tình trạng vứt xác lợn chết ra môi trường, vận chuyển hoặc tiêu thụ lợn bệnh sẽ được hạn chế. Điều này giúp bảo vệ môi trường sống, bảo đảm an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng.
“Từ những kết quả bước đầu tại xã Trường Lưu, có thể khẳng định chăn nuôi không tiếp xúc là hướng tiếp cận phù hợp đối với điều kiện sản xuất nông hộ hiện nay. Mô hình không đòi hỏi đầu tư lớn, kỹ thuật phức tạp nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả cao trong phòng, chống dịch bệnh. Đây cũng là giải pháp cụ thể hóa các nguyên tắc an toàn sinh học theo hướng dễ hiểu, dễ thực hiện và phù hợp với tập quán sản xuất của người dân”, ông Nguyễn Thanh Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh đánh giá.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/chan-nuoi-khong-tiep-xuc--giai-phap-kiem-soat-mam-benh-tu-goc-d815619.html










